Văn học Pháp trong các nghiên cứu của Lộc Phương Thủy – Tác giả: PGS TS Cao Thị Hồng

Văn học Pháp trong các nghiên cứu của Lộc Phương Thủy – Tác giả: PGS TS Cao Thị Hồng

Hình Ảnh về: Văn học Pháp trong các nghiên cứu của Lộc Phương Thủy – Tác giả: PGS TS Cao Thị Hồng

Video về: Văn học Pháp trong các nghiên cứu của Lộc Phương Thủy – Tác giả: PGS TS Cao Thị Hồng

Wiki về Văn học Pháp trong các nghiên cứu của Lộc Phương Thủy – Tác giả: PGS TS Cao Thị Hồng

Văn học Pháp trong các nghiên cứu của Lộc Phương Thủy – Tác giả: PGS TS Cao Thị Hồng -

Tiếp cận các công trình nghiên cứu của Lộc Phương Thủy, chúng ta có thể tưởng tượng được bức tranh toàn cảnh, phong phú, nhiều chủng loại, có “điểm” có “diện” về văn học Pháp từ cuối thế kỷ XIX xuyên suốt thế kỷ XX, ở nhiều thể loại, trên cả phương diện sáng tác và phê bình văn học.

Tựu trung, có thể thấy nhà nghiên cứu tập trung giới thiệu, luận giải những nội dung cơ bản sau: a/Văn học Công xã Paris; b/ Tiểu thuyết Pháp thế kỷ XX; c/ Quan niệm văn học và đặc thù là phê bình văn học Pháp thế kỷ XX. Tìm hiểu Văn học Pháp trong các nghiên cứu của Lộc Phương Thủy (từ 1986 tới nay)  chúng tôi hướng tới luận giải một số nội dung cơ bản trên,  từ đó thấy rõ hơn trị giá các nghiên cứu, giới thiệu văn học Pháp của Lộc Phương Thủy đối với văn học ở Việt Nam (thời kỳ đổi mới và hội nhập). Qua đây, chúng tôi cũng muốn khẳng định: Ở mỗi thời kỳ lịch sử, việc tiếp thu – giới thiệu văn học Pháp ở nước ta có những đặc thù  không giống nhau, song ở thời kỳ đổi mới và hội nhập, thành tựu của các nhà nghiên cứu Việt Nam (trong đó có Lộc Phương Thủy) thêm một lần nữa cho thấy việc tiếp thu tinh hoa văn học Pháp để làm giàu vốn văn hóa dân tộc nói chung và văn học nói riêng là một vấn đề mang tính quy luật thế tất. Chính vì vậy, đặt trong bối cảnh giao lưu văn hóa hiện nay, đổi mới tư duy về việc tiếp thu, truyền bá văn học Pháp như thế nào để tạo nên sức lan tỏa sâu rộng, ngày càng mang lại hiệu ứng tích cực đối với công chúng Việt Nam, điều này cần được coi như một trong những nội dung quan trọng trong chiến lược tăng trưởng văn học, văn hóa nước nhà.

Nhà phê bình văn học Cao Thị Hồng 

I.

Thời kỳ đổi mới và hội nhập (từ 1986 tới nay), với nhiều thời cơ thuận tiện do thời đại mang lại, ý thức tiếp thu tinh hoa của văn học nước ngoài (trong đó có văn học Pháp) để làm giàu thêm vốn văn hóa của dân tộc đã được nhiều dịch giả và các nhà nghiên cứu quan tâm. Có thể kể tới các tác giả: Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Văn Chính, Lê Hồng Sâm, Đặng Anh Đào, Đặng Thị Hạnh, Phùng Văn Tửu, Đào Duy Hiệp, Hoàng Nhân, Thái Thu Lan, Liễu Trương, Đào Trọng Thức… và Lộc Phương Thủy cũng là một trong những nhà nghiên cứu đã dành nhiều tâm huyết cho việc nghiên cứu, giới thiệu văn học Pháp ở Việt Nam. Các công trình do Lộc Phương Thủy nghiên cứu (hoặc chủ biên, đồng chủ biên) về văn học Pháp như: Từ một góc nhìn về giao lưu văn học Việt-Pháp(1999), André Gide – Đời văn và tác phẩm (2002), Lịch sử văn học Pháp – Thế kỷ XIX (1990), Lịch sử văn học Pháp – Thế kỷ XX (1992), Phê bình văn học Pháp thế kỷ XX (chủ biên,1995), Quan niệm văn học Pháp thế kỷ XX (chủ biên, 2005), Lý luận – phê bình văn học toàn cầu thế kỷ XX, 2 tập (chủ biên, 2007), Văn học hậu hiện đại – Diễn giải và tiếp thu (2013), Tiếp thu văn học nghệ thuật (2013), Xã hội học văn học (Đồng tác giả, 2014), Tiếp thu tư tưởng văn nghệ nước ngoài – Kinh nghiệm Việt Nam thời hiện đại (Đồng chủ biên, 2015)…tất cả đều cho thấy một ý thức nỗ lực đóng góp cho việc truyền bá, lan tỏa văn học Pháp ở Việt Nam ở thời kỳ đổi mới và hội nhập toàn cầu trên mọi phương diện (trong đó có hội nhập văn hóa).

Tiếp cận tác phẩm của Lộc Phương Thủy, chúng ta có thể tưởng tượng được bức tranh toàn cảnh, phong phú, nhiều chủng loại, có “điểm” có “diện” về văn học Pháp từ cuối thế kỷ XIX xuyên suốt thế kỷ XX ở nhiều thể loại trên cả phương diện sáng tác và phê bình văn học. Tựu trung, có thể thấy nhà nghiên cứu tập trung giới thiệu, luận giải những nội dung cơ bản sau đây: a/Văn học Công xã Paris; b/ Tiểu thuyết Pháp thế kỷ XX; c/ Quan niệm văn học và đặc thù là phê bình văn học Pháp thế kỷ XX. Trên cơ sở nghiên cứu văn học Pháp từ nhiều góc nhìn khách quan, khoa học  “hết sức dẻo dai và một ý thức khiêm tốn học hỏi” (Hồ Tôn Trinh) Lộc Phương Thủy đã có nhiều đúc kết, nhận định xác đáng về sự nghiệp của các nhà văn Pháp và vai trò quan trọng,  sự tác động ko nhỏ của văn học Pháp đối với văn học hiện đại Việt Nam.

Tìm hiểu Văn học Pháp trong các nghiên cứu của Lộc Phương Thủy (từ 1986 tới nay)  chúng tôi hướng tới luận giải một số nội dung cơ bản trên,  từ đó thấy rõ hơn trị giá các nghiên cứu, giới thiệu văn học Pháp của Lộc Phương Thủy đối với văn học ở Việt Nam (thời kỳ đổi mới và hội nhập). Qua đây, chúng tôi cũng muốn khẳng định: Ở mỗi thời kỳ lịch sử, việc tiếp thu – giới thiệu văn học Pháp ở nước ta có những đặc thù  không giống nhau, song ở thời kỳ đổi mới và hội nhập, thành tựu của các nhà nghiên cứu Việt Nam (trong đó có Lộc Phương Thủy) thêm một lần nữa cho thấy việc tiếp thu tinh hoa văn học Pháp để làm giàu vốn văn hóa dân tộc nói chung và văn học nói riêng là một vấn đề mang tính quy luật thế tất. Chính vì vậy, đặt trong bối cảnh giao lưu văn hóa hiện nay, đổi mới tư duy về việc tiếp thu, truyền bá văn học Pháp như thế nào để tạo nên sức lan tỏa sâu rộng, ngày càng mang lại hiệu ứng tích cực đối với công chúng Việt Nam, điều này cần được coi như một trong những nội dung quan trọng trong chiến lược tăng trưởng văn học, văn hóa nước nhà.

II.

Thành tựu văn học Pháp qua nhiều thế kỷ gắn liền với những tên tuổi thân thuộc với độc giả trên khắp toàn cầu. Nếu như ở những thế kỷ XIX, tác phẩm của các nhà văn, thi sĩ Pháp như : Hugo, Baudelaire, Balzac, Maupassant , France, Zola, Rabelais, Ronsard, Montaigne, Mon – tesquieu, Voltaire, Diderot, Rousseau, Lamartine, France v.v… đã từng làm xao xuyến bao tâm hồn của nhiều thế hệ độc giả, thì tới thế kỷ XX văn học Pháp càng kín đáo, quyến rũ, ấn tượng hơn với độc giả. Nhiều trào lưu, trường phái văn học xuất hiện với các tác giả nổi danh: chủ nghĩa Dada và Tzara, B.Cendrarsa, phong trào Siêu thực và A. Breton, G. Apollinaire, thơ ca kháng chiến và L. Aragon, P. Eluard… chủ nghĩa Hiện sinh và J.P.Sartre, A.Camus, S. de Beauvoir, Kịch mới (kịch phi lý, phản kịch…) với E.Jonesco, S. Beckett… Tiểu thuyết Mới với N. Sarraute, A. Robbe – Grillet, M.Butor, C. Simon… phê bình Mới với R. Barthes, G.Genette, G. Poulet, Ch. Mauron, L. Goldman, JKristéva… các thi sĩ P.Valéry, P.Claudel, Sait John Perse, R. Char, J.Prévert, H.Michaux, F. Ponge, Y.Bonnefoy…, các nhà văn M. Proust, A. Gide, R.Martin du Gard, A. Malraux, F. Mauriac, A. de Saint-Exupéry, M. Yourcenar, M.Duras, G. Simenon…, các nhà viết kịch J. Giraudoux, J.Anouilh, H.de Montherland v. v…và điều này phần nào lý giải vì sao nước Pháp có số nhà văn đã vinh dự được nhận giải Nobel về văn học nhiều nhất toàn cầu. Đó là: Sully Prudhomme (1901), F. Mistral (1904), R. Rol- land (1915), A.France (1921), H. Bergson (1927), R. Mar- tin du Gard (1937), A. Gide (1947), F. Mauriac (1952), A. Camus (1957), Saint John Perse (1960), J.P. Sartre (1964, ko nhận), S. Beckett (1969), C. Simon (1985)… Nghiên cứu, giới thiệu một nền văn học kỳ vĩ tương tự là một việc ko dễ dàng. Tuy vậy, Lộc Phương Thủy, với sự thấu hiểu và tình yêu thâm thúy với văn học Pháp đã tìm ra tuyến đường để dẫn dắt độc giả khám phá “mê cung” văn học Pháp: tính từ lúc những nội dung nhưng mà ở đó dấu ấn thành công của nó mãi mãi là hằng số văn hóa – là niềm tự hào của người Pháp nói riêng và nhân loại nói chung.

Trong Từ một góc nhìn về giao lưu văn học Việt – Pháp (Nxb.Khoa học xã hội, 1999) độc giả gặp lại ở đây những gương mặt rất thân thuộc, thân thiện qua các nghiên cứu: Nhà văn Julles Valles, Thi sĩ chiến sĩ Eugène Pottier, Léon Cladel – Nhà văn xuất sắc của Công xã Paris, Đề tài Công xã Paris trong vở kịch “Mùa xuân năm 71” của Arthur Adamov, Công xã Paris qua vở kịch “Phát súng ở Satory”, Về tác phẩm thơ kịch trữ tình “Công xã Paris” của Henri Bassis, Trẻ thơ trong sáng tác của V.Hugo, Jean – Richard Bloch và tập bút ký “Tây ban nha! Tây ban nha!, Về nhà văn Henri Barbusse, Cuộc đời thông minh của Romain Rolland, Quá trình sáng tác của nhà văn Roger Martin du Gard, Vấn đề đạo đức trong sáng tác của Hervé Bazin.

Tên tuổi và tác phẩm của các nhà văn tiêu biểu cho văn học Công xã Paris thế kỷ XIX tuy ko còn xa lạ với nhiều độc giả nhưng lại được Lộc Phương Thủy giới thiệu một cách cô đọng, ấn tượng từ những góc nhìn khác cùng nhiều phát hiện mới nhưng mà trước đây độc giả Việt Nam chưa có dịp xúc tiếp; Từ “cây đại thụ” Victor Hugo tới các nhà văn, thi sĩ – chiến sĩ khác như Julles Valles, Eugène Pottier, Léon Cladel, Arthur Adamov, Henri Bassis,  Jean – Richard Bloch, Henri Barbusse,  Romain Rolland, Roger Martin du Gard, Hervé Bazin…tất cả đều trở lại trong các trang viết của Lộc Phương Thủy với một “thần thái” mới. Chẳng hạn, Lộc Phương Thủy đã khẳng định: “Victor Hugo ko phải là nhà văn chuyên viết về thiếu nhi, nhưng rõ ràng là ko người nào phủ thu được tài năng của ông lúc ông nói đến tới mảng đề tài này. Nhớ tới Hugo hàm ơn nhà văn lớn lao đã từng để lại bao tác phẩm kiệt xuất cho nhân loại, chúng ta ko thể ko nhắc tới những gương mặt trẻ thơ trong sáng tác của ông” [1, tr.94].  Phân tích những bài thơ viết cho trẻ em của Hugo trong tập Nghệ thuật làm ông và làm sáng rõ những đặc điểm nhân vật trẻ em trong văn xuôi của ông, (đặc thù nhân vật Gavroche trong bộ tiểu thuyết Những người khốn khổ – chú nhỏ được coi là vị thần hộ mệnh cho những người nghèo khổ), Lộc Phương Thủy nhận thấy: “So với các nhà văn Pháp cùng thời thì  chỉ có Hugo để khá nhiều tâm trí cho sáng tác về trẻ em và viết hay hơn cả. Mảng đề tài tưởng như quá nhỏ nhỏ và khiêm tốn so với sự nghiệp khổng lồ của Hugo, nhưng nó vẫn có vai trò vị trí nhất mực của nó [1, tr.107].

Những luận giải của Lộc Phương Thủy cho chúng ta có dịp hiểu V. Hugo thâm thúy và đầy đủ hơn. Nhiều hình tượng trẻ em sinh động trong sáng tác của V. Hugo đã để lại cho những người làm văn học thiếu nhi hôm nay cả một kho kinh nghiệm vô giá, Lộc Phương Thủy khẳng định: “Trước hết, đó là lòng mến thương, lòng nhân đạo cao cả của một người cầm bút và sau đó là óc quan sát tinh tế, là sự học hỏi ko ngừng ở nhân vật (trẻ em các thế hệ), là sự hiểu biết thâm thúy tâm sinh lý, thị hiếu của chúng liên kết với quá trình hồi ức và sống lại với chính tuổi thơ của mình” [1, tr.108].

Ngoài ra, phân tích những tác phẩm xuất sắc Địa ngục, Lửa  của H. Barbusse, Lộc Phương Thủy đã giúp độc giả nhận thức rõ lòng căm ghét, thái độ phản đối chiến tranh toát lên từ tác phẩm, dẫn dắt độc giả tới những suy nghĩ tích cực về nghệ thuật, cuộc sống, chiến tranh và con người…Tác giả Hervé Bazin – người kế tiếp xuất sắc truyền thống của chủ nghĩa hiện thực phê phán Pháp thế kỷ XIX – có số lượng tác phẩm khổng lồ, nhưng qua bài viết Vấn đề đạo đức trong sáng tác của Hervé Bazin,  Lộc Phương Thuỷ đã chỉ ra H.Bazin là một người cầm bút mang ý thức “xây” tích cực hơn chống, một nhà văn đầy lòng nhân ái có thể làm đối trọng với nhiều nhà văn hiện thực phê phán cùng thời. Trong sự nhìn nhận của Lộc Phương Thủy: “Cladel cũng như các nhà văn khác của Công xã Paris, đã nỗ lực phấn đấu cho một nền văn học hiện thực mới, viết về nhân dân và đấu tranh vì nhân dân. Ông đã dùng sáng tác của mình như một vũ khí đắc lực trong cuộc đấu tranh với giai cấp thống trị. Sự nghiệp sáng tác của ông là một mắt xích quan trọng trong lịch sử văn học tiên tiến ở Pháp cuối thế kỷ XIX nói chung và trong quá trình tăng trưởng của văn học Công xã Paris nói riêng”[1, tr.43].

Có thể nói, những nghiên cứu Văn học Công xã Paris của Lộc Phương Thủy đọng lại cho độc giả Việt Nam ấn tượng sâu đậm về một trào lưu văn học ra đời trong bão táp cách mệnh năm 1871, nhiều nghệ sĩ tham gia vào dòng thác cách mệnh này tuy tài năng, thiên hướng chính trị không giống nhau, nhưng giống nhau ở hành động: trung thành, tâm huyết với nhân dân, tích cực bảo vệ Công xã Paris. Họ “tuy ko để lại di sản văn học nghệ thuật khổng lồ, nhưng chiếm một vị trí quan trọng trong văn học Pháp và văn học toàn cầu” [1, tr.34].

Sau văn học Công xã Paris, mảng nghiên cứu thứ hai Lộc Phương Thủy quan tâm giới thiệu với độc giả Việt Nam là tiểu thuyết Pháp thế kỷ XX. Trong André Gide – Đời văn và tác phẩm (Nxb. Khoa học xã hội, 2002),  Tiểu thuyết Pháp thế kỷ XX – Truyền thống và canh tân (Nxb.Văn học, 2005), Quan niệm văn học Pháp (Nxb.Văn học, 2005) chúng ta có thể thấy tác giả tập trung tái tạo phần nào bức tranh sống động của tiểu thuyết Pháp thế kỷ XX. Trong những công trình này, nội dung cơ bản là giới thiệu một số gương mặt tiểu thuyết Pháp thế kỷ XX, đó là các nhà tiểu thuyết dường như vẫn còn có mối dây liên hệ với tiểu thuyết hiện thực truyền thống như R. Rolland (1866-1944), M.du Gard (1881-1958), Henri Barbusse (1873-1935), H. Bazin (1911-1996), nhà “hiện thực kiểu mới” Le Clézio (1940), tới các nhà tiểu thuyết Hiện sinh như Jean – Paul Sartre (1905-1980), Anbert Camu (1913-1906), và các nhà Tiểu thuyết Mới như N.Sarraute, A.Robbe – Grillet, M.Butor, CL.Simon mỗi người đều trình bày trong sáng tác của mình những trằn trọc tìm tòi, hướng tới những canh tân đổi mới; đặc thù qua việc giới thiệu một cách cụ thể, hệ thống cuộc đời  – sự nghiệp, tác phẩm tiêu biểu nhà văn André Gide cả phương diện sáng tác và lý luận,  độc giả có dịp làm quen với sự nghiệp nhiều chủng loại của một nhà văn xoành xoạch khát khao say mê tìm hiểu và khám phá, luôn phát hiện và hướng tới những chân trời mới, một đại diện xuất sắc của tiểu thuyết Pháp thế kỷ XX.

Xem thêm bài viết hay:  Người Yêu Của Tôi Là Sao Hạng A – Phần 1 | Review Phim Hay | Zan

Nhìn toàn cảnh về thể loại tiểu thuyết, Lộc Phương Thủy khẳng định rằng tiểu thuyết Pháp thế kỷ XX là một lĩnh vực thông minh rộng lớn, hơn thế nữa, mặc cho các lời kêu ca tiểu thuyết đang “ngắc ngoải” hay đã “chết”, nó vẫn là thể loại thành công trong văn học Pháp thế kỷ XX – một thế kỷ đầy biến động trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có văn học. “Suốt chiều dài trăm năm của thế kỷ, các nhà tiểu thuyết Pháp đã trình bày sự nỗ lực thường xuyên của mình, tìm tới những lối đi mới, thích hợp với thực tiễn xã hội đã có những thay đổi với vận tốc chóng mặt”[2, tr.7].

Đáng chú ý là khái niệm Tiểu thuyết dòng sông (roman-fleuve) được Lộc Phương Thủy giới thiệu kỹ lưỡng. Loại tiểu thuyết này xuất hiện vào những năm đầu thế kỷ XX đã góp phần vào sự nhiều chủng loại và phong phú của tiểu thuyết Pháp thế kỷ XX. Theo Lộc Phương Thủy, một số nhà nghiên cứu người Pháp cho rằng: “Tiểu thuyết dòng sông xuất hiện từ thời Trung thế kỉ và tiếp tục tồn tại qua nhiều thế kỷ trong văn học Pháp. Hiểu một cách đơn giản nhất, tiểu thuyết dòng sông được trình bày qua độ dài nhiều tập của nó, cho phép chứa đựng những nội dung có tính chất hoành tráng, trải dài, bao quát cuộc đời của một con người, một gia đình, một nhóm người với các biến cố lịch sử xã hội rộng lớn. Độ dài như dòng sông của tiểu thuyết sẽ cuốn theo nó nhiều sự kiện, nhiều câu chuyện, với nhiều thăng trầm, chuyển đổi”[2, tr.11].

Tiểu thuyết dòng sông trong văn học Pháp ở thế kỷ XX một mặt kế thừa các thành tựu của tiểu thuyết nhiều tập ở các thế kỷ trước, đặc thù là tiểu thuyết thế kỷ XIX với các tác giả Balzac và Tấn trò đời, Hugo và Những người khốn khổ, Zola và Gia đình Rougon- Marquart; Mặt khác, “nó trình bày hơi thở, nhịp sống của những năm đầu thế kỷ XX với các lay chuyển vững mạnh trong chính trị, kinh tế, kỹ thuật và văn hóa chỉ có vào thời kì này, tạo nên điểm đặc thù của tiểu thuyết nói riêng, văn học Pháp nói chung ở nửa đầu thế kỷ XX [2, tr.11]. Thông tin về những bộ tiểu thuyết dòng sông tiêu biểu (có nhẽ lần trước hết được Lộc Phương Thủy giới thiệu cụ thể ở Việt Nam) mang lại cho độc giả nhiều bất thần thú vị và sự ngưỡng mộ tài năng, cảm phục kết quả của quá trình làm việc kiên trì và hăng say thông minh của các nhà văn Pháp. Đó là M. du Gard với bộ Gia đình Thibault gồm 8 tập (1922-1940), R. Roland với bộ Jean-Christophe gồm 10 tập (1904-1912), J. Romains với bộ Những người thiện chí gồm 27 tập (1932-1947),  G. Duhamel với bộ Gia đình Pasquier gồm 10 tập (1933-1945).

Trong số các tác gia của loại tiểu thuyết dòng sông, R.Rolland và M.du Gard đã vinh dự nhận giải Nobel văn học bởi những hiến dâng trong sự nghiệp thông minh của mình. Có thể nhận thấy rõ sự trân trọng đặc thù của Lộc Phương Thủy dành cho những nhà văn Pháp kiệt xuất bởi những sáng tác của họ đều “ghi dấu ấn quan trọng có tính chất mở đầu thế kỷ XX đầy biến động”[2, tr.17].

Luận giải về vấn đề xây dựng nhân vật trong các tác phẩm của R.Rolland, Lộc Phương Thủy phát hiện nét rực rỡ: “Một trong những đặc điểm rõ nét trong sáng tác của R.Rolland là sự hướng tới những tư tưởng cao cả, những nhân vật nổi tiếng. Cuộc đời hoạt động của họ như những ngọn hải đăng soi sáng cho nhân loại đang khát khao Chân, Thiện, Mĩ”[2, tr.14]. Độc giả Việt Nam cũng nhận thấy tài năng và sự tinh tế của nhà văn Pháp trong kiến tạo nghệ thuật tiểu thuyết: “Tiểu thuyết Tâm hồn đắm say” (1922) cũng là một tác phẩm thuộc loại tiểu thuyết-dòng sông. Nữ nhân vật chính của tác phẩm Annette Rivière được khắc họa rõ nét với tính cách cương nghị, dám chọn cho mình một cuộc đời độc lập, chống lại những thành kiến đầy ác ý. Ở đây chúng ta thấy lặp lại môtip dòng sông thân thuộc trong sáng tác của Rolland: nhân vật chính có họ Rivière (dòng sông). Còn trong tác phẩm, Rolland viết: “dòng sông vẫn chảy về đại dương…Ko có gì ngăn cản được… Cuộc sống vẫn tiến về phía trước! Thậm chí cả trong cảnh chết chóc, sóng nước vẫn nâng đỡ chúng ta! Thậm chí trong cảnh chết chóc chúng ta vẫn đi lên phía trước” [2, tr.15]. Trong Lời tựa của lần xuất bản thứ nhất tác phẩm Tâm hồn đắm say vào năm 1922, Rolland đã bộc lộ quan niệm sáng tác của mình: “Lúc tôi viết một cuốn tiểu thuyết, tôi lựa chọn một nhân vật nhưng mà tôi cảm thấy hợp; (hay nói đúng hơn, chính là nhân vật đã chọn tôi). Một lúc nhân vật đã được lựa chọn, tôi để cho nhân vật được tự do, tôi tránh ko can thiệp (…) Vậy nên, lúc tôi lựa chọn Jean- Christophe, hay Colas, Annette Rivière, tôi ko phải là thư ký ghi chép những suy nghĩ của họ nữa. Tôi lắng tai họ, tôi nhìn họ hành động và tôi nhìn bằng đôi mắt của họ…”. Lộc Phương Thủy đã giúp độc giả nhận thấy R.Rolland đã nỗ lực vượt lên cái quyền lực gần như tuyệt đối của kiểu tác giả-toàn năng của tiểu thuyết truyền thống và tuân theo tính khách quan của quá trình thông minh”[2, tr.15].

Sau R.Rolland là  R. M. du Gard – một trong những nhà văn xuất sắc của văn học hiện đại Pháp. Sáng tác của ông kế tục xứng đáng những truyền thống của văn học Pháp thế kỉ trước, đồng thời có những canh tân trong kỹ thuật tiểu thuyết, tạo nên những đổi mới trong văn học Pháp đầu thế kỷ XX. Theo R. M. du Gard: “người viết tiểu thuyết cần phải lui về phía sau, nhường chỗ cho nhân vật của mình; anh ta cần phải mô tả những nhân vật đó một cách thật sinh động để họ hiện lên trước mặt người đọc rõ ràng như những con người thực nhưng mà khán giả nhìn thấy và nghe thấy trên sân khấu”[2, tr.23]. Giới thiệu, kiến giải những thông minh của R. M. du Gard đối với thể loại  tiểu thuyết qua tác phẩm Jean Barois (1913) và đặc thù là tám tập của bộ tiểu thuyết Gia đình Thibault (được nhận định là “tuyệt đỉnh của tiểu thuyết hậu Balzac”) trên nhiều phương diện: xây dựng nhân vật, hội thoại, hướng dẫn kỹ thuật, lối tường thuật “kể gián tiếp”… Lộc Phương Thủy khẳng định với những nỗ lực thông minh, canh tân tiểu thuyết của mình nhà văn R. M. du Gard đã: “có dịp trình bày con người mình, khả năng sáng tác cũng như quan niệm nghệ thuật của mình” [2, tr.25].

Bàn về truyền thống và canh tân tiểu thuyết Pháp, Lộc Phương Thủy đã dành riêng cho Andre Gide (1869-1951) – nhà văn có vị trí quan trọng trên văn đàn nước Pháp thế kỷ XX với nhiều sự tôn vinh “Bậc thầy của tư tưởng”, “nhân vật hàng đầu” – chuyên luận Andre Gide đời văn và tác phẩm (2002), tuy nhiên trong Tiểu thuyết Pháp thế kỷ XX – truyền thống và hiện đại (2005) tác giả cũng dành toàn thể phần hai của công trình cho mục Truyền thống và canh tân qua sáng tác của Andre Gide.

Đây là những nghiên cứu công phu, với nhiều điểm nhìn về sự nghiệp nhiều chủng loại, phong phú của A.Gide. Từ kiến giải về điều kiện chính trị, xã hội, kinh tế, những lay chuyển và thành công trong khoa học kỹ thuật của thời đại nhưng mà nhà văn được “đắm mình trong ko khí chung của một thời kỳ yêu cầu phải đổi mới tiểu thuyết”[2, tr.50], tới luận giải chuyển biến tư duy nghệ thuật tiểu thuyết của nhà văn qua những tác phẩm tiêu biểu, Lộc Phương Thủy cho chúng ta thấy về mặt phong cách Gide đã khắc phục lối viết phức tạp, cầu kì, tới với một tiếng nói trong sáng, giản dị rõ ràng. Tiểu thuyết châm biếm Les Caves du Vatican (Những động ngầm dưới Vatican, 1914) đặt vấn đề về sự chấp nhận một cách mê muội những tôn giáo và lý tưởng. Năm 1926, tiểu thuyết Les Faux-monnayeurs (Bọn làm bạc giả) ra đời mang lại nhiều thành công cho ông, đó là một đóng góp thực sự vào sự tăng trưởng thể loại tiểu thuyết. Lộc Phương Thủy khẳng định A. Gide luôn quan tâm tới tính khách quan của tác giả trong quá trình sáng tác, việc làm nhiều chủng loại các điểm nhìn trong tiểu thuyết, mẫu hình kiến tạo “tiểu thuyết trong thuyết” đã giúp độc giả trông thấy sự phong phú và phức tạp của đời sống được trình bày qua tác phẩm. Chính điều đó đã giúp ông tránh được đường mòn của tiểu thuyết truyền thống thường có một điểm nhìn. A.Gide đã tạo ra sự canh tân hết sức quan trọng về kỹ thuật, nhưng mà “quan tâm tới kỹ thuật sẽ là vấn đề cốt yếu trong tiểu thuyết thế kỷ XX, vì vậy, tiểu thuyết của ông đã trở thành một cột mốc quan trọng trong quá trình tăng trưởng tiểu thuyết Pháp thế kỷ XX”[2, tr.93].  Qua phần giới thiệu của Lộc Phương Thủy về A.Gide, chúng ta có thể cảm nhận từ nhà văn mang phong cách lạ mắt này của văn học Pháp một ý thức đổi mới triệt để, luôn đấu tranh với chính mình để đi tới tận cùng chân ái và chân lý, luôn khát khao say mê khám phá và thông minh, nhưng mà trước hết là khám phá, phát hiện chính con người thực của mình, vì sự thực nhưng mà chẳng tiếc tới thân mình, để từ đó mới có thể thực hiện những mục tiêu lý tưởng, hiến dâng cả của cuộc đời cho nghệ thuật.  Qua việc nghiên cứu sự nghiệp của nhà văn này, Lộc Phương Thủy giúp độc giả có thể thức nhận nhiều điều liên quan tới những chuẩn mực nhận định văn học, nhận định người nghệ sỹ, những vấn đề đã, đang và sẽ cần được nhìn nhận, nhận định lại, liên quan ko chỉ tới văn học Pháp nhưng mà còn cả tới văn học Việt Nam hiện đại.

Sau Tiểu thuyết dòng sông, vấn đề Tiểu thuyết Hiện sinh  Tiểu thuyết Mới của văn học Pháp cũng được Lộc Phương Thủy luận giải và bộc bạch rõ ý kiến, nhận định của bà về thành tựu của những loại tiểu thuyết này.

Từ một số những nội dung cơ bản của triết học Hiện sinh như: Quan tâm tới vấn đề thân phận con người,  Khẳng định tồn tại có trước thực chất…Lộc Phương Thủy chỉ rõ Quan tâm tới vấn đề thân phận con người các nhà Hiện sinh có cái nhìn tiêu cực về con người. “Họ cho rằng nỗi khổ cực là tiền kiếp của con người. Lỗi lầm cơ bản của con người, nằm ngay trong sự giới hạn và yếu hèn của chính cuộc đời. Con người luôn muôn hướng về hoàn thiện, toàn mỹ, về những cõi vô cùng, nhưng lại thấy mình đầy hạn chế và thiếu sót. Vì vậy, con người luôn bị các tranh chấp đó dày vò và bị mắc kẹt ở đó. Mặt khác, con người sống ở cõi đời như những kẻ bị bỏ rơi, những kẻ bị lưu đầy. Con người chỉ biết tồn tại ở trần gian, ko biết mình từ đâu tới và mình sẽ đi về đâu” [2, tr.57]. Khẳng định tồn tại có trước thực chất – đây là một ý kiến quan trọng, từ đó liên quan trực tiếp tới tên gọi của triết học Hiện sinh. Các nhà Hiện sinh cho rằng sự tồn tại của con người có trước thực chất, trong một hoàn cảnh, con người có thể chọn một trong nhiều giả thiết. “Sự lựa chọn sẽ tạo ra con người, tức thực chất của anh ta vào hoàn cảnh đó. Con người sẽ phải lựa chọn nhiều lần trong cuộc đời, phải lao vào vào nhiều hoàn cảnh, nhiều tình huống, vì vậy, trong thực tiễn, tuy anh ta tồn tại đấy, nhưng thực chất của anh ta chưa thể xác định một cách vững chắc được” [2, tr.58]; Mặt tích cực của triết học Hiện sinh cũng được khẳng định, ngay cả tâm trạng kinh hoàng, lo lắng của con người cũng ko hẳn là tiêu cực, bởi những điều đó gây ra sự bận rộn, khiến mọi người phải nỗ lực. Trạng thái “bận rộn” đó là động cơ xúc tiến hoạt động của con người. Tương tự, qua tiếp thu của Lộc Phương Thủy triết học Hiện sinh là “triết học hành động, nhấn mạnh tới sự hoạt động tích cực của con người. Nó ko coi sự tồn tại của con người là cái gì đó bình ổn, đã được xác định, đã bị đóng khung. Con người ko đứng yên, anh ta phải liên tục lựa chọn và phải chịu trách nhiệm về bản thân mình”[2, tr.59].

Tiếp đó, trên cơ sở nội dung của triết học Hiện sinh, tập trung kiến giải một số tiểu thuyết Hiện sinh tiêu biểu như Buồn nôn (1938  của J.-P. Sartre), Người xa lạ (1942) Dịch hạch (1947) của A.Camus,  Lộc Phương Thủy đã có nhiều nhận định xác đáng: “Với tác phẩm Buồn nôn J.-P. Sartre ko chỉ có những đóng góp quan trọng đối với tiểu thuyết Hiện sinh nói riêng. Ông đã vượt qua lối kể truyện truyền thống vốn dựa trên cơ sở người kể truyện biết hết mọi việc. Ông chọn cách kể truyện qua cái nhìn chủ quan của nhân vật để người đọc có dịp hoà đồng trong câu chuyện. Với việc dùng thứ bậc nhất số ít “tôi” và động từ hiện nay trong tác phẩm Buồn nôn, J-P. Sartre đã báo trước một thiên hướng mới trong tiểu thuyết Pháp hiện đại với những tìm tòi, đổi mới về kỹ thuật tiểu thuyết”[2, tr.66]. Hoặc Người xa lạ – tiểu thuyết trình bày rõ rệt nhất các sắc thái của chủ nghĩa Hiện sinh theo kiểu Camus, tác phẩm “vẫn giữ những đặc điểm của tiểu thuyết truyền thống như truyện kể theo đơn tuyến, có nhân vật và tình tiết. Nhưng, đồng thời tác phẩm chứa trong mình nó những kỹ thuật tiểu thuyết hiện đại: phần hai của tác phẩm với ko gian chủ yếu là nhà tù, một ko gian hẹp, thích hợp cho độc thoại nội tâm xuất hiện. Cấu trúc ko đơn giản của tình tiết đã tạo nên tính “đa âm” cho tác phẩm và khiến nó được xếp vào danh sách những cuốn sách quan trọng của thế kỷ XX” [2, tr.74].

Với Tiểu thuyết Mới, đọc nghiên cứu của Lộc Phương Thủy độc giả có thể tìm được lời trả lời thấu đáo cho những vấn đề như:  Quan niệm về Tiểu thuyết Mới, thành tựu và giới hạn của loại tiểu thuyết Mới.

Tiểu thuyết Mới là một cái tên quen gọi trong giới văn học Pháp thế kỷ XX, cũng như ở nước ngoài. Nhưng đó ko phải tên gọi một trường phái, trào lưu, có chỉ huy, có thủ lĩnh, có tạp chí riêng và tuyên ngôn riêng của mình như một số trường phái ở thế kỷ XX. Lộc Phương Thủy đồng thuận ý kiến cho rằng Tiểu thuyết Mới chỉ là bước tiếp theo trong sự vận động ko ngừng của thể loại tiểu thuyết Pháp, tác giả quan tâm ý kiến của Alain Robbe – Grillet (1922-2008) – “lãnh tụ của trào lưu Tiểu thuyết Mới”, “giáo hoàng Tiểu thuyết Mới” lúc ông khẳng định sự đổi mới của tiểu thuyết đã có từ thời Balzac và thể loại tiểu thuyết trong thực tiễn đã tăng trưởng liên tục với những nhà văn bậc thầy xuất sắc như: Flaubert, Dostoievsky, Proust, Kafka, Joyce, Faulkner,… “Với những canh tân của mình (có tính chất “xáo trộn”, lúc ko chấp nhận kiểu nhân vật truyền thống, các tính cách, trật tự niên biểu, các tình tiết có tính xã hội học trong tiểu thuyết), Tiểu thuyết Mới đã tạo điều kiện cho công chúng có ý thức về sự vận động ko ngừng của thể loại (và đó cũng là ý nghĩa tích cực của hành động “tìm kiếm”). Đó chính là điều quan trọng nhất, đáng để chúng ta lưu tâm”[2, tr.83].

Xem thêm bài viết hay:  Xóa xăm bằng thuốc tím “tiền mất tật mang”

Qua kiến giải của Lộc Phương Thủy, chúng ta thấy xét về tổng thể, Tiểu thuyết Mới là một cuộc tìm kiếm, là sự từ chối những thói quen đơn giản, những đường mòn và sự trì trệ. Tiểu thuyết Mới trình bày thiên hướng chung của tiểu thuyết Pháp thế kỷ XX: ko ngừng vận động, ko ngừng đổi mới. “Nó đã đạt được một số thành tựu như tìm tới những phương tiện mới trong mô tả, mời gọi người đọc tới một hành động đọc tích cực hơn trước…”[2, tr.93]. Tuy nhiên, cùng với thành tựu, những giới hạn của Tiểu thuyết Mới cũng được xem xét trên ý thức khoa học, khách quan. Lộc Phương Thủy nhận thấy: “Trong lúc mê mải tìm kiếm những canh tân, đổi mới, tiểu thuyết Mới chưa hắn đã thành công một cách triệt để Các nhà tiểu thuyết mới hộ hào “xoá sổ” nhân vật và phá vỡ tình tiết, nhưng trên thực tiễn ko dễ gì xoá sổ được nhân vật. Có thể có thay đổi một số kỹ thuật xây dựng nhân vật, nhưng về cơ bản nhân vật vẫn ko thể bị xóa bỏ. Tiểu thuyết Mới trao quyền tự do cho người đọc, nhưng thực ra nhiều tác phẩm lại trở thành văn bản khó tiếp cận, dẫn tới việc người đọc ngại đọc tiểu thuyết Mới. Ngay trong giới nhà văn Pháp, kể cả những người chủ trương đổi mới, canh tân tiểu thuyết nói riêng, văn học nói chung, cũng ko tán thành với những “phát minh” nhiều lúc khá là cực đoan của tiểu thuyết Mới [2, tr.94].

Những nghiên cứu của Lộc Phương Thủy cho chúng ta thấy trên hành trình thông minh, những nhà tiểu thuyết hiện đại Pháp luôn ko ưng ý với những chuẩn mực sáng tác đã có, họ luôn khát vọng tìm kiếm, đổi mới, hướng tới những chân trời mới. Họ thường ko tuân theo một hiện thực duy nhất, một cách trình bày duy nhất. Họ ko muốn trở thành “thư ký trung thành của thời đại”, hay là nhà ghi chép lịch sử, nhà xã hội học. Họ nỗ lực tìm cách thoát khỏi lối viết mòn cũ, tránh bị “trùm” dưới bóng khổng lồ của các đại văn hào Balzac, Hugo, …của thế kỷ trước. Họ tham khảo, học hỏi kinh nghiệm sáng tác của các nhà văn nước ngoài, đồng thời thể nghiệm và vận dụng những thành tựu xuất sắc của các ngành nghiên cứu khoa học xã hội để có những đổi mới, canh tân trong sáng tác. Kết quả của các cuộc tìm tòi đã tạo nên sự nhiều chủng loại, phong phú của bức tranh toàn cảnh tiểu thuyết thế kỷ XX. Và phải chăng đây chính là những bài học kinh nghiệm quý báu để các nhà văn Việt Nam đã, đang và tiếp tục tham khảo, suy ngẫm, đổi mới tư duy trong thông minh nghệ thuật, tăng trưởng nền văn học nước nhà trong sự vận động của từng thời kỳ lịch sử?!

Tiếp cận nghiên cứu của Lộc Phương Thủy, độc giả có thể thấy rất rõ kế bên việc quan tâm tới sự canh tân của Tiểu thuyết Pháp, tác giả còn dành nhiều tâm huyết tới mảng phê bình văn học Pháp. Từ cuốn sách giới thiệu sơ lược Phê bình văn học Pháp thế kỷ XX (1995), tiếp theo bổ sung những tri thức mới, mở rộng tới Lý luận phê bình văn học toàn cầu thế kỷ XX (2007). Lộc Phương Thủy hướng tới những vấn đề liên quan tới lý luận phê bình : André Gide – Nhà phê bình văn học, Phê bình của người thông minh, J-.P. Sartre và vấn đề trách nhiệm của nhà văn, Jean-Paul Sartre và phê bình hiện sinh, Xã hội học văn học ở Pháp, Phê bình macxit Pháp trong thế kỷ XX v.v… Năm 2014, với tư cách đồng tác giả Lộc Phương Thủy tiếp tục cùng cộng sự ra mắt cuốn sách nhan đề Xã hội học văn học với mục tiêu bổ sung thêm những tri thức cũng như cách tiếp cận khác trong toàn cảnh phê bình Pháp thế kỷ XX.

Nếu như ở thế kỷ XVIII và XIX phê bình văn học dễ có sự thống nhất trong cách lý giải, bình xét thì qua các công trình của Lộc Phương Thủy chúng ta thấy Phê văn học Pháp thế kỷ XX hiện diện là một nền phê bình nhiều chủng loại, phong phú, luôn diễn ra xung đột giữa hai thiên hướng Cũ và Mới,  một nền phê bình tụ hội nhiều nhà phê bình nổi tiếng, đại diện cho các trường phái phê bình  không giống nhau… Sự nhiều chủng loại này phải chăng đã ghi lại sự cáo chung của thiên hướng phê bình có tính chuẩn mực từ các thế kỷ trước?!

Lộc Phương Thủy cho rằng:  “Nói tới phê bình văn học Pháp ở thế kỷ XX ko thể ko nói tới cuộc xung đột giữa hai thiên hướng Cũ – Mới – sự kiện tầm cỡ thế kỷ, sự kiện kéo theo hàng loạt tan vỡ, xáo trộn, tranh luận, xuất hiện hàng loạt khái niệm mới, hình thức tiếp cận mới. Cuộc xung đột đó “là nguyên nhân trực tiếp xúc tiến sự tăng trưởng của Phê bình Mới, hay sự Đổi mới phê bình”[3, tr.25]. Tương tự, ở đây tác giả nhận định cao vai trò Phê bình Mới trong việc thay đổi dung mạo của Phê bình văn học Pháp thế kỷ XX. Có nhẽ chính vì vậy, Lộc Phương Thủy đã dành một dung lượng ko nhỏ để luận giải về Phê bình Mới.

Để có thể làm sáng tỏ những vấn đề về Phê bình Mới, Lộc Phương Thủy đã dẫn dắt độc giả tính từ lúc những tranh luận Mới – Cũ của các học giả đương thời. Bà viện dẫn tới cuốn sách nhỏ của R. Barthes nhan đề Phê bình và Sự thực (1966)  và cho đây là “câu trả lời gang thép những lời cáo buộc của Picard và trình diễn các luận điểm của phê bình Mới. Theo ông, cấp thiết một khoa học về khoa học. Nhắc lại từ đã dùng của Rimbaud cho rằng tác phẩm có nghĩa “một cách văn học và một cách đa nghĩa”, Barthes nhấn mạnh rằng chính tính đa nghĩa đã tạo nên cơ sở của tác phẩm văn học. Trong sự khủng hoảng chung của cách lý giải truyền thống, Barthes đã nhìn thấy bước đầu của một cuộc cải cách mới. Chính nhờ cấu trúc nhưng mà tác phẩm mới trở thành tác phẩm mở và chứa đựng khả năng đa nghĩa”[3, tr.27]. Lộc Phương Thủy chỉ rõ trong tác phẩm Phê bình và Sự thực, “Barthes đã phát hiện những gốc rễ sâu xa của phê bình Mới. Nó ko những chỉ có tham vọng trở thành một khoa học như đã nói ở trên, nhưng mà còn vì nó mong muốn trở thành một hành động hoàn toàn có tính thông minh. Trong phê bình có sự soạn lại. Toàn thể họat động phê bình là sự thông minh và toàn thể quá trình thông minh chứa đựng một phần công việc của phê bình”[3, tr.28]. Tương tự, ngay từ khởi đầu của cuộc tranh luận, ý kiến của R. Barthes và các nhà phê bình Pháp đã nhấn mạnh hoạt động phê bình là một hoạt động ko những chỉ mang tính “khoa học” nhưng mà còn trình bày rõ tính “thông minh”. Đây là một ý kiến đúng mực, chỉ ra được thực chất thực sự của phê bình – phê bình thực sự cũng là một hành trình “thông minh trên nền thông minh” chứ ko thuần tuý chỉ là việc “ăn theo nói leo”, bình tán những vấn đề ngoài văn bản.  Cuộc tranh luận Cũ – Mới của các nhà khoa học Pháp đã trở thành quá khứ, nhưng đúng như Lộc Phương Thủy khẳng định: “Kết quả quan trọng sau những cuộc tranh luận là phê bình Mới đã tồn tại, phát huy tác dụng của nó và thực sự góp phần tích cực vào quá trình đổi mới tư duy, đổi mới phê bình Pháp”[3, tr.28]. Và thực tiễn đã chứng minh, đổi mới tư duy phê bình của nền văn học Pháp ko ngừng lại ở biên giới nước Pháp nhưng mà còn lan tỏa sang nhiều nước trên toàn cầu, trong đó có Việt Nam. Thời kỳ đổi mới, việc tiếp thu ý thức phê bình Mới của Pháp trở thành một trong những yếu tố quan trọng để làm mới, tăng lên chất lượng học thuật  nền phê bình văn học Việt Nam.

Lộc Phương Thủy đã tập trung kiến giải, làm sáng tỏ các đặc điểm chung cơ bản của Phê bình Mới. Theo bà: “Mối quan tâm trước hết, trực tiếp và rõ ràng nhất của phê bình Mới là quyết định trở về với văn bản”. Phân tích trường hợp Lanson –  cây đại thụ của phê bình văn học Pháp nửa đầu thế kỷ XX, người đã từng làm cách mệnh với khẩu hiệu: “Văn bản, văn bản, văn bản” Lộc Phương Thủy nhận định: “Ông coi tiểu truyện nhà văn chỉ là một phần để tham khảo trong công việc nghiên cứu phê bình và chú trọng hơn tới tác phẩm (…) Trục đường khám phá được phê bình Mới mở rộng thêm với những khả năng nhận thức mới. Các nhà phê bình Mới thích tác phẩm hơn là tác giả. Với các cách tiếp cận mới, họ hiểu thấu ý nghĩa nhiều chiều của tác phẩm, và chỉ sau đó, họ mới cho phép quay lại với tác giả”[3, tr.29].

Phê bình Mới chú trọng phân tích những tầng sâu của tác phẩm. Người phê bình theo xu thế này ko chỉ quan tâm tới những ý nghĩa nằm trên bề mặt, dễ nhận thấy ở tác phẩm. “Chủ yếu, anh ta quan tâm tới những điều nhưng mà nhiều lúc chính tác giả cũng ko quan tâm tới. Các nhà phê bình Mới có tham vọng thám hiểm vào chiều sâu, phát xuất hiện những ý tiềm tàng”. Và có nhẽ vì vậy nên chúng ta thấy các nhà Phê bình mới đã tìm tới sự giúp sức của phân tâm học.”[3, tr.29].

Đặc điểm thứ hai của phê bình Mới đó là kiểu phê bình nhằm hiểu thấu tác phẩm trong tổng thể của nó. “Có sự phụ thuộc lẫn nhau và quan hệ tương hỗ giữa bộ phận và toàn thể, giữa từng đoạn, từng câu, thậm chí từng từ của tác phẩm và ý nghĩa chung của tác phẩm”[3, tr.29]. Để “thấu hiểu” tác phẩm từ các đơn vị cấu thành tác phẩm, các nhà phê bình Mới cần phải theo nguyên tắc mở tác phẩm ra toàn cầu, soi sáng những điểm tối, khơi lại những yếu tố nhỏ nhỏ nhất làm sao khai thác được nhiều ý nghĩa nhất nhưng mà tác phẩm có thể có. Để làm được điều đó, phê bình Mới dùng phương pháp của cấu trúc luận; Và đặc điểm cuối cùng của phê bình Mới được nói đến là nó có quan hệ chặt chẽ với một số ngành khoa học nhân văn như tiếng nói, triết học, xã hội học, tâm lý học.

Bàn về phê bình văn học Pháp thế kỷ XX, tác giả Lộc Phương Thủy đã xem xét nhiều phương diện khách quan và chủ quan có tác động, tác động tới nó.  Đó là những tác động tác động từ bên trong và từ bên ngoài.

Với những tác động từ bên trong, tác giả cho rằng phê bình văn học Mới có gốc rễ ngay từ trong cuộc sống văn học của nước Pháp. Trên cơ sở luận giải, lật đi lật lại vấn đề trong tác phẩm các tác giả đại diện như Baudelaire, Marcel Proust, Lộc Phương Thủy phát hiện:  “Khác với lối phê bình cổ điển và lối phê bình tượng trưng, phê bình kiểu Baudelaire là sự mộng mơ nhằm tới nói chung, đồng thời quan tâm tới cụ thể. Từ đây phát sinh hành trình của văn học so sánh nhằm thấu hiểu thực chất bên trong của mỗi thành phầm văn học. (…) Quá trình sáng tác thơ tuân theo các qui luật của Ngôn từ thông minh. Thi sĩ là bậc thầy về kỹ thuật, là nhà ảo thuật của ngôn từ”[3, tr.31]. Còn với trường hợp của Marcel Proust, thông qua ý kiến của ông bộc bạch trong tác phẩm Chống Sainte-Beuve (1953). Lộc Phương Thủy cho rằng ở một mức độ nào đấy có thể coi đây là cơ sở cho phê bình Mới. Proust chê trách Sainte-Beuve đã ko hiểu đặc thù của hành động thông minh, của cảm hứng, ông cho phương pháp luận của Sainte-Beuve đã lỗi thời và đề xuất một phương pháp khác: thăm dò nội tâm, xây dựng lại hành động thông minh. Trong sự logic của vấn đề, Lộc Phương Thủy khẳng định: “Từ sự phát xuất hiện cái tôi bị che dấu, cái tôi thông minh trong lý luận của Proust đã kéo theo một hệ quả khác: báo trước sự xuất hiện thiên hướng phê bình phân tâm học”[3, tr.32]. Ngoài ra, Lộc Phương Thủy còn nói đến tới một số ý kiến đổi mới phê bình khác của Proust như mục tiêu của tác phẩm nghệ thuật là thông minh ra toàn cầu – có tức là tái tạo toàn cầu theo cảm thụ riêng của người nghệ sĩ, phát xuất hiện tầm quan trọng của ko gian…

Tương tự, chúng ta thấy sự vận động đổi mới tư duy phê bình văn học Pháp xuất phát ngay từ nội tại tăng trưởng của đời sống văn học dân tộc. Tranh luận học thuật của các học giả – nhà văn Pháp trên ý thức khách quan, khoa học, kế thừa tinh hoa và phủ định những ý kiến lỗi thời đã mang lại cho phê bình văn học Mới những thành tựu quan trọng, có tác động, lan tỏa trên phạm vi toàn cầu, trong đó có Việt Nam.

Đối với việc tác động từ bên ngoài, Lộc Phương Thủy xem xét mối quan hệ tác động giữa phê bình Mới ở Pháp và trường phái nghiên cứu hình thức Nga. Chính các bản dịch từ tiếng Nga ra tiếng Pháp đã góp phần tích cực vào quá trình tác động này ví dụ như tác phẩm của V.Propp: Hình thái học truyện cổ tích(1958), tập Lý luận văn học (1965) và các chuyên khảo của Chkloski, Eikenbaum, Tynianov… Các nhà phê bình Pháp đã tiếp thu nhiều phương diện theo ý thức phê bình của các nhà hình thức Nga như:  nghiên cứu nội tại tác phẩm được hiểu như một thực thể, nhân vật của khoa học văn học ko phải là văn học, nhưng mà là tính văn học (thuật ngữ này chỉ rõ tính đặc thù của tác phẩm văn học), nghiên cứu hình thức chủ yếu dựa trên hệ thống ký hiệu tiếng nói, nhất là tiếng nói thơ, để mắt vào phát hiện những qui luật nội tại chi phối tác phẩm, văn học là một hệ thống hàm nghĩa, tác phẩm văn học là một hệ thống hợp thành từ những yếu tố có trị giá tác dụng, các yếu tố có liên quan với nhau. Sự quan hệ của một yếu tố này với yếu tố khác tạo thành tác dụng của nó so với toàn thể hệ thống. Tác dụng của mỗi tác phẩm lại được này sinh trong mối tương quan với các tác phẩm khác… Lộc Phương Thủy cũng cho thấy các nhà phê bình Pháp còn quan tâm tới phương pháp phân tích cấu trúc nhưng mà V.Propp  là người có công mở đầu với cuốn Hình thái học truyện cổ tích, trong tác phẩm ông đã phân tích các truyện cổ thành các bộ phận và tác dụng.

Xem thêm bài viết hay:  List 7 món quà tặng sinh nhật cho nữ tinh tế, thiết thực

Tương tự trong cái nhìn của Lộc Phương Thủy, Phê bình văn học Mới của Pháp đã nỗ lực phát huy nội lực và cầu thị, sẵn sàng tiếp thu tác động bên ngoài để xây dựng nền tảng tăng trưởng nền Phê bình văn học, và có nhẽ chính vì vậy nên Phê bình Mới của Pháp cũng mở ra với nhiều thiên hướng linh hoạt, phong phú, nhiều chủng loại.

Tiếp thu phê bình văn học Pháp hiện đại, Lộc Phương Thủy nhận thấy phê bình văn học Pháp gắn bó chặt chẽ với khoa học nhân văn khác như triết học, tiếng nói học tâm lý học, dân tộc học, nhân chủng học, xã hội học. Đó là chưa kể tới xu thế “toán học hoá” trong phê bình văn học nói riêng và trong các ngành khoa học xã hội nói chung. Cho nên, lúc bàn về Thiên hướng phê bình văn học Pháp, Lộc Phương Thủy nhận xét: “Phê bình Mới có những đặc điểm chung tương đồng, nhưng nó lại có cách tiếp cận riêng tạo ra “các phê bình Mới”: phê bình phân tâm học, phê bình chủ đề, phê bình tiếng nói học và phê bình lịch sử – xã hội học. Chính điều đó đã tạo nên bức tranh nhiều chủng loại sống động của phê bình văn học Pháp thế kỷ XX”[3, tr.54].

Tiếp đó, Lộc Phương Thủy đã chứng minh tính linh hoạt, nhiều chủng loại, sống động,  của phê bình văn học Pháp thế kỷ XX một cách hệ thống qua các thiên hướng: phê bình phân tâm học, phê bình tiếng nói học, phương pháp phê bình cấu trúc, phê bình xã hội học… Chẳng hạn từ lý thuyết phân tâm học, với tuyến đường đi từ tác phẩm để phát hiện con người vô thức của tác giả, từ xung đột nội tâm của các nhân vật, trông thấy xung đột tư nhân nhà văn, xuất hiện trong phê bình Mới khái niệm “liên văn bản”…Hoặc từ chủ trương gắn khoa học (phân tâm học) vào nghệ thuật (phê bình văn học) của Charles Mauron dẫn tới sự xuất hiện khái niệm “xếp chồng văn bản” ; “Tiếng nói học ở thế kỷ XX đóng góp hết sức tích cực vào quá trình đổi mới văn học nói chung và đổi mới phê bình văn học nói riêng. F. de Saussure là người đặt nền tảng cho ngành phê bình cấu trúc và ngành ký hiệu học (…) từ đó lý thuyết mới về ký hiệu tiếng nói xuất hiện [3, tr.54]; Quá trình hoạt động của Roland Barthes – người đi tiền phong của trường phái coi phê bình là khoa học về văn học với những tác phẩm Độ ko của cách viết (1935), tới các tác phẩm Sade, Fournier, Loyola (1971), hoặc Thích thú văn bản (1973) đã làm nổi trội sự năng động của phương pháp phê bình cấu trúc. “Cái viết, theo ông, được quan niệm như tác dụng, như mối liên hệ giữa xã hội và quá trình thông minh, được tạo ra từ sức mạnh đặc thù mang dấu ấn tư nhân”[3, tr.55]; Lộc Phương Thủy xác quyết rằng các thiên hướng phê bình Mới ở Pháp phong phú thêm bởi những đóng góp của phê bình xã hội học, trong đó L. Goldmann chiếm một vị trí quan trọng. Sở dĩ tương tự bởi “Goldmann quan tâm tới xã hội học thông minh, ông liên kết hài hòa những khái niệm thuộc cấu trúc và lịch sử, tính lịch đại và đồng đại…Tác phẩm văn học là một nhân vật thẩm mỹ có cội nguồn trong đời sống xã hội. Nó biểu thị thái độ của con người hoặc của một nhóm xã hội. Vì vậy cần phải sáp nhập tác phẩm vào tổng thể cuộc đời và xã hội. Đây chính là điểm gặp giữa khía cạnh cấu trúc và khía cạnh xã hội học trong phê bình của Goldmann [3, tr.60].

 Có thể thấy lần trước hết ở Việt Nam, qua giới thiệu của Lộc Phương Thủy bức tranh nhiều chủng loại của phê bình văn học Pháp đã phần nào được phác họa với những nét sinh động, lôi cuốn nhất. Dung mạo cơ bản của phê bình văn học Pháp thế kỷ XX đã chứng tỏ đây là nền phê bình thực sự gắn bó với đời sống văn học hiện đại Pháp, nó mang trong mình những đặc điểm tiêu biểu của thời đại: liên tục mở rộng mối giao lưu với bên ngoài, phát huy tối đa sức mạnh nội lực, trằn trọc, tìm kiếm ko ngừng để “đoạn tuyệt” tư duy phê bình lỗi thời, hướng tới cái mới, tiến bộ, hiện đại. Nền phê bình văn học Pháp thế kỷ XX một mặt hướng tới chuyên môn hoá, trở về với văn bản văn học, với đặc thù của kiến tạo văn học, mặt khác nó vẫn gắn bó chặt chẽ với các ngành khoa học xã hội, tác động qua lại, bổ sung làm phong phú thêm những tuyến đường thông minh để khám phá thông điệp nhân văn, lớp lớp hàm ẩn trong các tác phẩm văn học thực sự. Phê bình văn học Pháp thế kỷ XX ko những xúc tiến sự tăng trưởng văn học Pháp, nhưng mà còn được ghi nhận cả trong nền văn học của nhiều quốc gia tăng trưởng trên toàn cầu. Chính vì có sự tăng trưởng vượt trội của phê bình văn học Pháp, “lần trước hết, ở thế kỷ XX, phê bình văn học được xếp ngang với những tác phẩm nhưng mà nó phân tích. Trong số các nhà phê bình, nhiều người đồng thời cũng là nhà văn nổi tiếng, từ Charles Du Bos tới Rolland Barthes, tù Jacqué Rivière tới Maurice Blanchot”[1, tr.251].

Từ việc nghiên cứu, thấu hiểu về văn học Pháp và đối chiếu để thấy những tác động ko nhỏ của nó đối với văn học nhiều dân tộc trong đó có Việt Nam, Lộc Phương Thủy luôn trằn trọc về vấn đề đổi mới nền văn học, đặc thù đổi mới nền phê bình văn học Việt Nam.  Điều này được trình bày rõ ở phần hai của cuốn sách  Từ một góc nhìn về giao lưu văn học Việt – Pháp (1999). Ở đây, Lộc Phương Thủy đã tập trung làm sáng rõ các nội dung: Văn học Pháp thế kỷ XVIII và văn học Việt Nam, Văn học Pháp hiện đại và Việt Nam, Phê bình văn học Pháp và đổi mới văn học ở Việt Nam, Về việc dịch văn học Pháp thế kỷ XX, Văn học Pháp và Tạp chí văn học, Thạch Lam trong sự giao tiếp với văn học Pháp, Khả năng ngòi bút Hải Triều…Trong các nghiên cứu trên, chúng ta gặp nhiều đúc kết, khuyến nghị hướng tới mong muốn làm “nhịp cầu kết nối”, góp tiếng nói xúc tiến tăng trưởng sự giao lưu văn học hai dân tộc trong thời kỳ đổi mới và hội nhập. Tác giả khẳng định: “Cho tới hôm nay dù trên phương diện lịch sử, số phận có trớ trêu tới đâu, thì cuộc gặp mặt với nền văn học Pháp ngay từ đầu thế kỷ đã để lại những dấu ấn thâm thúy” [1, tr.240].  Quả thực, văn học Pháp hiện đại với những áng thơ, văn tiềm tàng trị giá nhân văn, nhân văn thâm thúy, có sức cảm hóa lòng người lớn lao đã và đang là món ăn ý thức chiếm vị trí xứng đáng của trong công chúng Việt Nam ở mọi thế hệ, từng lớp… Cuộc đời và sự nghiệp của nhiều nhà văn Pháp xứng đáng là những kinh nghiệm quý báu cho các nhà văn Việt Nam.

Ko phải tình cờ trong công cuộc Đổi mới và Hội nhập mấy chục năm qua, giới nghiên cứu phê bình văn học ở Việt Nam đã nỗ lực kéo gần thêm khoảng cách giữa văn học Việt Nam và toàn cầu, đặc thù là văn học Pháp,  Lộc Phương Thủy khẳng định: “Trong thế so sánh, một bên là nhu cầu “mở cửa” ra ngoài để “biết người biết ta”, một bên là một thực thể phê bình văn học đã và đang tồn tại trong suốt mấy chục năm qua, chúng ta thấy rằng phê bình văn học Pháp thực sự có thể là những kinh nghiệm gợi ý nhiều điều cho văn học và phê bình văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới hiện nay” [1, tr.250].

Vài chục năm qua (từ 1986 tới nay), nhờ có sự tiếp thu và giới thiệu của các nhà khoa học trong đó có Lộc Phương Thủy, các thiên hướng Phê bình Mới ở Pháp đã và đang tiếp tục tác động ko nhỏ tới sự tăng trưởng, đổi mới tư duy lý luận – phê bình văn học ở Việt Nam, bổ sung cho văn học Việt Nam nhiều khái niệm mới: văn bản, liên văn bản, trường ngữ nghĩa, tính văn học (littéralité)…[12]. Lộc Phương Thủy cũng đã rất thận trọng lúc đúc rút bài học: “Trong lúc tìm tới các cách tiếp cận mới, các khái niệm mới, các tri thức mới, chúng ta vừa có thể học hỏi kinh nghiệm của phê bình văn học Pháp, vừa có thể tránh được những khuyết thiếu có thể có” [1, tr.249].

Độc giả san sẻ thâm thúy với Lộc Phương Thủy nỗi niềm đau đáu, sự nhiệt thành của bà về công việc dịch thuật, truyền bá văn học Pháp ở Việt Nam: “Muốn hiện đại hoá nền văn học dân tộc, muốn hoà nhập trong tư thế đồng đẳng với quốc tế, chúng ta phải tăng lên trình độ nhận thức và lý luận, để có thể “hội thoại” với các đồng nghiệp nước ngoài” [1, tr. 258]; Và khát vọng về “một ko khí linh hoạt để những người làm công việc này tránh được những ý kiến cứng nhắc, những thành kiến hẹp hòi của một thời, để có thể thực hiện công việc của mình một cách khách quan hơn, khoa học hơn” [1, tr.245]. Những nghiên cứu của Lộc Phương Thủy về phê bình văn học Pháp là cơ sở khoa học đáng tin tưởng để chúng ta tiếp tục khám phá, cầu thị học hỏi trên hành trình vượt qua các giới hạn, hướng tới đổi mới mạnh mẽ nền phê bình văn học dân tộc, lấp đầy nhiều khoảng trống còn tồn tại trong đời sống văn học nước nhà để nhằm tới mục tiêu: Huấn luyện hàng ngũ nhiều năm kinh nghiệm, tâm huyết làm nghiên cứu phê bình; Khẳng định vai trò then chốt của các cơ sở lý thuyết khoa học, ứng dụng trong phê bìnhnhận định thẩm định các hiện tượng văn học và đặc thù đổi mới tư duy quản lý nền văn học nghệ thuật dân tộc theo xu thế khách quan, khoa học.

III.

Ko phải tình cờ, trong Quan niệm văn học Pháp thế kỷ XX, Lộc Phương Thủy đã trân trọng dẫn lời của J-P.Sartre, trong bài phát biểu nổi tiếng của ông Chủ nghĩa hiện sinh là một chủ nghĩa nhân văn: “Lúc nói con người tự lựa chọn, chúng tôi muốn nói rằng mỗi người trong chúng ta tự lựa chọn bản thân mình, nhưng đồng thời điều đó có tức là trong lúc tự lựa chọn, mỗi tư nhân tự lựa chọn toàn thể nhân loại. (…) Lựa chọn cũng có tức là khẳng định trị giá của cái nhưng mà ta lựa chọn, bởi ta ko bao giờ có thể chọn điều ác; điều nhưng mà chúng ta chọn bao giờ cũng là điều thiện, và ko có điều nào tốt cho chúng ta nhưng mà lại ko tốt cho tất cả mọi người” [4, tr.6]. Suốt cuộc đời dẻo dai, hết lòng gắn bó với sự nghiệp nghiên cứu văn học Pháp là sự lựa chọn “lao vào” của Lộc Phương Thủy.  Lộc Phương Thủy đã từng bộc bạch rất khiêm nhượng về nghiên cứu của mình: “Chúng tôi chỉ mong bước đầu cung ứng những thông tin có thể hữu ích cho độc giả yêu quý văn học Pháp và quan tâm tới vấn đề đổi mới canh tân trong văn học nói chung [4, tr.9]. Tuy nhiên, nghiên cứu của Lộc Phương Thủy về văn học Pháp đã vượt khỏi phạm vi của việc “cung ứng thông tin” thông thường, trị giá học thuật nhưng mà nó mang lại đã, đang và sẽ tiếp tục góp phần làm phong phú nền văn học nước nhà. Những thành tựu trong sự nghiệp nghiên cứu văn học Pháp của Lộc Phương Thủy cũng là minh chứng sinh động đồng thời cho thấy: thời kỳ đổi mới, nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam, trong đó có Lộc Phương Thủy đã thấm nhuần ý thức thông minh, nghị lực lao động trí tuệ phi thường của các nhà văn Pháp thế kỷ XX:  “nhập cục” hết mình cùng hành trình tìm kiếm ko ngừng những trị giá nhân văn, tiến bộ để quyết liệt đổi mới, tăng trưởng văn học dân tộc trong thời đại lịch sử mới.

_____________________

Tài liệu tham khảo:

[1]. L. P. Thủy,  Từ một góc nhìn về giao lưu văn học Việt-Pháp, Nxb. Khoa học xã hội, H.1999.

[2]. L. P. Thủy, (Chủ biên), Tiểu thuyết Pháp thế kỷ XX, Truyền thống và canh tân, Nxb. Văn học, H.2005

[3]. L. P. Thủy (Chủ biên), Phê bình văn học Pháp thế kỷ XX, Nxb Văn học, H.1995.

[4]. L. P.Thủy,  (Chủ biên),  Quan niệm văn học Pháp thế kỷ XX, Nxb. Văn học, H. 2005.

[5].T. T. Đạo, Từ chủ nghĩa hiện sinh tới thuyết cấu trúc, Nxb. Tri thức, H. 2008.

[6]. L. Nguyên (Chủ biên), Tiếp thu tư tưởng văn nghệ nước ngoài – Kinh nghiệm Việt Nam thời hiện đại, Nxb. Đại học SP Hà Nội, H. 2015.

[7]. L.Nguyên (Chủ biên), Việt Nam một thế kỷ tiếp thu tư tưởng văn nghệ nước ngoài, Nxb.Đại học SP Hà Nội, 2020.

[8]. Nhiều tác giả, Nghiên cứu văn học Việt Nam những khả năng và thử thách, Nxb. Toàn cầu, H. 2009.

[9]. H.N. Phương, Trường phái hình thức Nga, Nxb. Đại học Quốc gia, Tp. HCM, 2007.

[10]. L.P.Thủy, Lịch sử văn học Pháp – Thế kỷ XIX, Nxb. Ngoại văn, H.1990.

[11]. L.P.Thủy, Lịch sử văn học Pháp – Thế kỷ XX, Nxb. Ngoại văn, H.1992.

[12]. L.P. Thủy,  André Gide – Đời văn và tác phẩm, Nxb. Khoa học xã hội, 2002.

[13]. L.P.Thủy, (Chủ biên),  Lý luận – phê bình văn học toàn cầu thế kỷ XX, 2 tập, Nxb. Giáo dục, H. 2007.

[14]. L.P. Thủy, N.P. Ngọc, P.N. Kiên,  Xã hội học văn học, Nxb. ĐH Quốc gia, H. 2014.

[15]. H.Trinh, Ký hiệu nghĩa và phê bình văn học, Nxb.Văn học, H. 1979.

[rule_{ruleNumber}]

#Văn #học #Pháp #trong #các #nghiên #cứu #của #Lộc #Phương #Thủy #Tác #giả #PGS #Cao #Thị #Hồng

Bạn thấy bài viết Văn học Pháp trong các nghiên cứu của Lộc Phương Thủy – Tác giả: PGS TS Cao Thị Hồng có khắc phục đươc vấn đề bạn tìm hiểu ko?, nếu ko hãy comment góp ý thêm về Văn học Pháp trong các nghiên cứu của Lộc Phương Thủy – Tác giả: PGS TS Cao Thị Hồng bên dưới để Trường Cao đẳng Nghề Khách sạn Du lịch Quốc tế IMPERIAL có thể thay đổi & cải thiện nội dung tốt hơn cho các bạn nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website: imperialhotelschool.edu.vn củaTrường Cao đẳng Nghề Khách sạn Du lịch Quốc tế IMPERIAL

Nhớ để nguồn: Văn học Pháp trong các nghiên cứu của Lộc Phương Thủy – Tác giả: PGS TS Cao Thị Hồng của website imperialhotelschool.edu.vn

Viết một bình luận