Phân tích bài thơ Chiều Tối (Mộ) của Hồ Chí Minh

Đề bài: Phân tích bài thơ Chiều tối (Mộ) của Hồ Chí Minh để thấy được tấm lòng yêu thiên nhiên của Bác khi còn bị giam trong tù?

Bài thơ Chiều tối (Mộ) của Hồ Chí Minh là một trong những bài thơ hay nhất của Bác Hồ. Dù bị tù đày nhưng Bác vẫn hướng về vẻ đẹp của thiên nhiên.

Người ta thường thích ngắm cảnh lúc bình minh, lúc hoàng hôn… nhưng với Bác, thời điểm nào trong ngày cũng đẹp. Cảnh đẹp buổi chiều rất đỗi bình dị làm say lòng biết bao thi nhân.

Dưới đây là một số bài văn hay phân tích bài thơ Chiều tối (Mộ) của Hồ Chí Minh cho các bạn tham khảo:

Bài 1. Bài văn phân tích bài thơ Chiều tối (Mộ) của Trần Khánh Tuấn:

Chiều” là bài thơ ra đời trong thời gian đầu khi Người ở trong tù. Cũng trong thời gian đó, có nhiều bài thơ Bác ghi lại những hình ảnh “lên đường” di chuyển (“Năm mươi ba cây số một ngày_Áo_Áo” Bác đã mới đến nhà lao Thiên Bảo) và bài thơ này cũng nằm trong chùm thơ “Đi đường”.Bài thơ thể hiện một phong cách nghệ thuật nhất quán là sự thống nhất trong đa dạng của con người.Tập thơ “Nhật ký trong tù”. Đó chính là sự vận động của hình tượng thơ.Trong thơ ca Bác luôn vận động từ bóng tối đến ánh sáng, từ lạnh lẽo đến ấm áp, từ nỗi buồn đến niềm vui.Đó chính là sự vận động của hình tượng thơ được thể hiện rõ nét qua bài thơ “Chiều tối”.

Phân tích bài thơ Chiều tối (Mộ) của Hồ Chí Minh – Minh họa

Trong bức tranh thiên nhiên núi rừng xa lạ có gì đó như một chút buồn man mác ẩn hiện những liên tưởng mơ hồ:

Bạn là một người đàn ông của thiên đường

(Chim mỏi vào rừng tìm chỗ ngủ

Mây lơ lửng giữa trời)

Bài thơ mang đậm màu sắc thơ cổ bởi lối viết miêu tả và những thi liệu quen thuộc của thơ cổ. Không nói đến thời gian chính xác nhưng hình ảnh “cánh chim” cũng đủ gợi tả không gian và cũng mang ý nghĩa chỉ thời gian. Hai câu đầu tả cảnh trong một buổi chiều tối. Hình ảnh chim muông, mây trời giàu tính minh họa, gợi lại thể thơ tứ tuyệt quen thuộc trong thơ cổ điển. Sự mỏi mệt của cánh chim, sự hiu quạnh của những đám mây chiều, đó là cảnh vật được nhìn qua tâm trạng của người tù bị đày ải. Trong lúc mệt mỏi, quản ngục vẫn dành cho thiên nhiên một tình yêu lớn, người đã vẽ nên một bức tranh cổ điển tuyệt đẹp. Đó là biểu tượng của một buổi chiều muộn, một buổi chiều thu yên ả nhưng cảnh vật có vẻ u buồn, mệt mỏi và cô đơn.

Cảnh như hòa với lòng người. Rõ ràng là sự hài hòa giữa thiên nhiên và tâm trạng con người được thể hiện khá đậm nét. Nhưng hình ảnh thơ không dừng lại ở đó mà có sự vận động hết sức độc đáo. Từ một bức tranh thiên nhiên, bài thơ đã biến thành một bức tranh đời thường.

Xem thêm bài viết hay:  Câu chuyện về em bé thông minh

Thời gian từ chiều đến tối. Cảm xúc của con người không còn một chút buồn, mà là hạnh phúc. Không gian cũng bừng lên sắc đỏ “rực hồng” của những chiếc lò than:

Em gái miền núi xay ngô buổi tối

Nghiền tất cả các loại than đã chuyển sang màu hồng.

Hình ảnh cô gái xay ngô trở thành hình ảnh trung tâm của bài thơ, toát lên vẻ trẻ trung, khỏe khoắn, sôi nổi. Vẻ đẹp của bức tranh được thể hiện qua hình ảnh người lao động. Tâm hồn Hồ Chí Minh luôn hướng về tương lai, về nơi có ánh sáng ấm áp của cuộc đời. Bài thơ mang đậm sắc thái hiện đại. Tác giả sử dụng thành công cấu trúc lặp liên hoàn: “Ma bao bao”, “Bao ma” hành động xay ngô lặp đi lặp lại diễn tả chu trình của cối xay ngô. Ở đó người ta nhận ra nhịp điệu êm đềm của thời gian, mà điều kỳ diệu là nhịp thời gian hòa quyện với nhịp sống. Buổi chiều yên ả đã kết thúc để bước vào đêm tối, nhưng đêm tối không âm u mà bừng sáng ngọn lửa hồng.

Từ hai câu đầu đến hai câu cuối của bài thơ “Bữa tối” là sự vận động của tứ thơ từ buồn bã sang lạc quan, từ bóng tối đến ánh sáng. Hai câu trên buồn mà lòng không vui. Cảnh ấy, tình ấy được thể hiện qua hình ảnh đàn chim mỏi trở về rừng và những đám mây cô đơn chậm rãi trôi ngang bầu trời. Hai câu thơ là một niềm vui được thể hiện qua hình ảnh bếp lửa đỏ rực bỗng sáng rực. Ngọn lửa hồng là niềm vui của con người, xua tan nỗi cô đơn, mệt mỏi của buổi chiều nơi núi vắng. Đó cũng là một nét cổ điển nhưng vẫn khá hiện đại của bài thơ.

Sự chuyển động của hình ảnh thơ từ thiên nhiên hoang vắng đến con người lao động, cuộc đời đến ánh sáng và tương lai được thể hiện rất tự nhiên và giàu cảm xúc. Sự vận động này trong tư tưởng Hồ Chí Minh xuyên suốt trong tập thơ “Nhật ký trong tù”.

Đoạn thơ kết thúc bằng từ “hồng” là nhãn của bài thơ thâu tóm linh hồn và sức sống của cả bài thơ. Cả bức ảnh bừng sáng bởi chữ “hồng”. Nó thể hiện niềm tin, ý chí, nghị lực kiên cường của người tù cộng sản Hồ Chí Minh. Bài thơ kết thúc bằng hình ảnh ngọn lửa hồng mang đến cho người đọc cảm giác ấm áp, tươi vui. Ngọn lửa đời vẫn sáng mãi ấm áp.

Đoạn thơ vừa mang phong cách cổ điển vừa đậm chất hiện đại, tràn đầy cảm xúc của nhà thơ trước thiên nhiên và con người lao động giản dị mà cao đẹp. Cảnh hoàng hôn trên núi trong mắt người tù trên đường bị đày ải, sự chuyển đổi của thời gian, cảnh vật…. đã làm nên bức tranh “chiều” không hồi kết với đêm tối, với cái lạnh của núi rừng. núi rừng được sưởi ấm bởi ngọn lửa hồng – ngọn lửa của một trái tim, một trái tim yêu đời, yêu cuộc sống, yêu đất nước, yêu con người vô hạn.

Xem thêm bài viết hay:  Bài văn kể chuyện về một việc làm khiến em ân hận

———————————–

Bài 2. Bài văn phân tích bài thơ Chiều tối (Mộ) của Hồ Chí Minh của Phạm Gia Hiền:

Hồ Chủ tịch là người sống rất tình cảm, vì giàu tình cảm nên Người mới đi làm cách mạng. Trong thế giới bao la tình yêu thương của Ngài dành cho đồng bào, cho trẻ em, cho bạn bè gần xa, phải có chỗ cho tình cảm gia đình. Chiều có thể hé lộ một thoáng mơ ước thầm kín về một mái ấm, một chốn dừng chân trên đường vạn dặm.

Phân tích bài thơ Chiều tối (Mộ) của Hồ Chí Minh

Phân tích bài thơ Chiều tối (Mộ) của Hồ Chí Minh – Minh họa

Chiều là bài thơ thứ 31 trong tập Nhật kí trong tù, ghi lại cảm xúc của nhà thơ trên đường bị đày từ nhà lao này sang nhà lao khác. Trên con đường gian khổ ấy, một buổi chiều, anh chợt chú ý đến tiếng chim chiều:

Chim mỏi vào rừng tìm chỗ ngủ

Câu thơ không chỉ ghi lại cảnh mà còn bộc lộ tình cảm của nhà thơ. Làm sao biết chim mệt, làm sao nói chắc mục đích chim vào rừng tìm chỗ ngủ, coi như ở trong lồng chim? Câu thơ chỉ là sự báo hiệu trời đã về chiều, mọi hoạt động trong ngày đã thấm mệt, đã đến lúc phải tìm một nơi để nghỉ ngơi, câu thơ đối lập với hình ảnh đám mây cô đơn dưới đây:

Mây trôi nhè nhẹ trong không trung

Câu thơ dịch hay nhưng ý thơ có phần nhạt hơn nguyên tác chữ Hán. Nó thua chữ “cô” trong “cô vân”, nghĩa là đám mây lẻ loi, lẻ loi, rất có ý tứ. Hai chữ “trôi nhẹ” không diễn tả hết được ý nghĩa của hai chữ “lãng mạn”. Vì “độ” là hoạt động để đi từ bờ này sang bờ kia, như “độ” đưa thuyền sang sông, “làm một ngày” để sống qua ngày. “Thiên không” là đi từ chân trời này sang chân trời kia, đường đi của mây mới xa làm sao! Còn “lãng mạn” là biểu hiện của sự trì hoãn, chậm chạp. Những đám mây cô đơn đi từ chân trời này sang chân trời khác; nhưng nó vẫn chậm và bị trì hoãn, khi nào nó sẽ đến? Và tất nhiên khi trời tối nó vẫn lơ lửng trên bầu trời! Đám mây cô đơn chầm chậm trôi giữa trời là hình ảnh ẩn dụ của người tù bị dẫn trên con đường vạn dặm, không biết đâu là điểm dừng! Trong hình ảnh ấy, hẳn anh cũng gửi gắm những cảm xúc cô đơn, nôn nao và khao khát một mái ấm gia đình. Chỉ hai câu thơ mà tả được cả cảnh, người, tình người. Đó là chức năng súc tích, thừa của thơ cổ điển.

Nếu như hai câu đầu nói về những chú chim mỏi mệt vào rừng tìm chỗ ngủ và những đám mây lẻ loi không biết bến đỗ thì hai câu cuối bài thơ lại thể hiện một chỗ ngủ của con người.

Em gái miền núi xay ngô buổi tối

Xay xong, lò than sáng hồng.

Trong bản dịch, dịch giả đã đưa vào từ “tối” một cách lộ liễu, trong khi thi nhân cổ kim chỉ muốn người dọc tự cảm nhận. tối xuống mà không có bất kỳ thông báo trực tiếp nào. Cái đó bộc lộ cái tứ, nhưng đó là cái khó của người dịch. Đáng chú ý là một cảnh lao động gia đình, rất đỗi bình thường, mộc mạc: người chị ở xóm núi xay hạt ngô, hạt ngô thu hoạch xong, bếp hồng. Chị ơi, ngọn lửa tượng trưng cho gia cảnh. Những hạt ngô xay xong, bếp đỏ hồng, tượng trưng cho công việc và sự nghỉ ngơi. Một bầu không khí ấm cúng cho du khách. Điều đáng chú ý thứ hai là trong nguyên tác chữ “hồng” là ấm, nóng chứ không phải đỏ, điều này chứng tỏ cái mà nhà thơ nghĩ là hơi ấm chứ không phải ánh hồng. Căn bếp lạnh lẽo, đống tro tàn là biểu tượng của sự cô độc, cô độc.

Xem thêm bài viết hay:  Bài văn kể chuyện lớp 4

Điều đáng chú ý thứ ba là nhà thơ đứng trên núi như thế mà như đứng kề bên. Lại nữa, nhà thơ phải đứng rất lâu mới thấy được sự trôi qua của thời gian trong câu: Em gái xóm núi xay ngô, bếp hồng sau khi xay hạt ngô? Đây chỉ là một bài thơ trên đường. Vậy đó chỉ là một khung cảnh tưởng tượng trong tâm trí, trước mắt là xóm núi bên đường, hiện ra như một biểu tượng của mái ấm gia đình, nơi sum họp của những người thân. Cái kết này tuy không sáng ngời tinh thần lạc quan cách mạng như ai đó hiểu nhưng vẫn ấm áp tình người, khiến lòng người bớt cô đơn, lẻ loi. Cùng với hình ảnh ấy một ước mơ thầm kín về một mái ấm gia đình thấp thoáng đâu đó. Nếu chúng ta để ý đến bài thơ trước bài Đi đường: “Đi đường mới biết gian nan, núi cao núi thấp” – con đường dài vô tận; và tiếp theo là Giấc ngủ đêm ở Long Tuyền: “Đôi ngựa đi ban ngày không nghỉ, “Gà ngũ vị”: thường ăn vào ban đêm; Lợi dụng trời rét, rệp xông vào đánh, Oánh dậy sớm, vui nghe hàng xóm hát”, rồi sẽ thấy sự xuất hiện của cảnh gia đình ấy là điều rất dễ hiểu. Điều đó chứng tỏ trái tim người cách mạng vẫn đập nhịp đập. những con người bình dị, gần gũi với mọi người.

Bạn thấy bài viết Phân tích bài thơ Chiều Tối (Mộ) của Hồ Chí Minh có khắc phục đươc vấn đề bạn tìm hiểu ko?, nếu ko hãy comment góp ý thêm về Phân tích bài thơ Chiều Tối (Mộ) của Hồ Chí Minh bên dưới để Trường Cao đẳng Nghề Khách sạn Du lịch Quốc tế IMPERIAL có thể thay đổi & cải thiện nội dung tốt hơn cho các bạn nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website: imperialhotelschool.edu.vn của Trường Cao đẳng Nghề Khách sạn Du lịch Quốc tế IMPERIAL

Nhớ để nguồn: Phân tích bài thơ Chiều Tối (Mộ) của Hồ Chí Minh của website imperialhotelschool.edu.vn

Chuyên mục: Văn mẫu hay

Viết một bình luận