Giỏi Văn – Bài văn: Phân tích bài thơ “Chiều hôm nhớ nhà” (3)

Bạn đang xem: Giải Ngữ Văn – Bài văn: Phân tích bài thơ “Chiều nhớ nhà” (3) Trong imperialhotelschool.edu.vn

Trong văn học trung đại Việt Nam, số ca dao còn lại với giai đoạn này không nhiều. Chúng ta thường nhắc đến ba gương mặt tiêu biểu là Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương và Bà Huyện Thanh Quan. Ba nữ nghệ sĩ này, mỗi người một vẻ, mỗi người đều có những đóng góp riêng cho nền thơ ca nước nhà. Trong 3 nữ thi sĩ ấy, bà huyện Thanh Quan khiêm tốn đứng một mình với chùm thơ khoảng 5-6 bài (có bài còn gây tranh cãi, cho là của các nhà thơ khác), trong đó hay được nhắc đến nhất là bài thơ. Chiều xa nhà. Bài thơ Nôm Đường luật này diễn tả nỗi nhớ nhà của một người phụ nữ khi cô đơn và lẻ loi:

Chiều muộn và hoàng hôn

Tiếng ốc xa xa vọng tiếng đồn.

Căn gác của người đánh cá trở về một thành phố xa xôi

Gõ sừng cô gái chăn cừu trở lại

Gió thổi đàn chim bay đi

Dặm liễu mù sương, từng bước

Một người sống ở Zhangtai, người kia đi du lịch

Ai có thể nói chuyện với cảm lạnh?

Bài thơ đưa ta vào một không-thời gian tưởng như cụ thể nhưng lại khá mơ hồ. Khoảng “chiều” được cụ thể hóa trong sự “lơ đãng” của “bóng hoàng hôn” để mang đến cho ta một buổi chiều như bao buổi chiều khác trong thơ cổ. Có nỗi nhớ của người con xa quê:

Ngõ đứng chiều hôm sau

Nhìn lại quê hương buồn một buổi chiều.

(Dân gian)

Chiều buồn nhìn ô cửa.

Một con thuyền thấp thoáng phía xa

(truyện Kiều)

Ngắt câu gợi cảm giác mệt mỏi, trễ nải của buổi chiều muộn, thời điểm ám ảnh văn hóa trong thơ cổ. Câu thơ mở đầu bằng “chiều” và kết thúc bằng “bóng hoàng hôn” như muốn hắt ánh vàng của nắng chiều xuống con người và cảnh vật. Chiều muộn là lúc mọi người trở về đoàn tụ, quây quần bên gia đình nhưng dường như nhân vật trữ tình trong bài thơ vẫn đang yên nghỉ trên con đường dài vắng vẻ. Trong không gian ấy, người ta có thể nghe thấy tiếng “ốc xa” và “tiếng trống”. Những âm thanh ấy tuy quen thuộc nhưng khi đặt nơi đất khách lại gợi lên trong lòng lữ khách nỗi buồn man mác. Hai âm thanh quyện vào nhau như báo hiệu cuộc xô đẩy sắp kết thúc. Khoảnh khắc “chiều” với tiếng ốc và tiếng trống làm nền cho hai câu thực:

Căn gác của người câu cá trở về phố xa. Gõ sừng mục tử về làng

Ở hai câu thơ này, ta thấy rõ hơn những quy tắc nghệ thuật của thơ Nho cổ (Nguyễn Thị Hinh tuy là nữ sĩ nhưng khi sáng tác vẫn chịu ảnh hưởng của những quan niệm văn chương Nho giáo). gia đình). Xuân Diệu từng gọi bà là “Bà chúa bụi”. Đọc hai câu thực, ta càng cảm nhận rõ hơn lời ngợi ca “nhà thơ mới nhất trong phong trào Thơ mới”. Vẫn là hình ảnh quen thuộc của người đánh cá và mục đồng (trong tứ tuyệt “ngư – tiều – canh – mộc” trong thơ xưa vẫn có những động tác “gác kê” và “gõ sừng” gắn với hai biểu tượng này. Ở đây gợi cho ta những câu như :

Ông lão đánh cá thả câu ngồi bên bến.

Mục đồng té nước tắm sông

khá:

Viễn Tu chia thanh, người mua

Chiến trường dẫn đầu của kẻ thù

Các nhà Nho xưa đều có quan niệm sống trong sạch gắn với nông thôn và thiên nhiên trong ngư – hải sản – trồng trọt – chăn nuôi. Chính những hình ảnh đẹp sẽ luôn thu hút họ. Nó chịu ảnh hưởng của cổ thư, có từ thời nhà Đường bên Trung Quốc với các nội dung sau:

Cô ấy đang nuông chiều bạn

Độc điếu hàn giang tuyết

(Lưu Tông Nguyên)

khá:

Luật sư tư vấn cho gia đình chủ nhà

Các mục đồng chỉ về Hạnh Hoa thôn

(Đỗ Mục)

Tuy nhiên, giữa một mạng lưới văn hóa đầy hình ảnh và truyền thuyết, Thành Quan còn lại gì? Việc sử dụng các từ Hán Việt “ngư ông”, “phố xa”, “mục đồng”, “cô thôn” đã tạo cho bài thơ một vẻ trang trọng, truyền thống như thế nào? Điều này chỉ đúng một phần. Ở câu thơ còn lại, dấu ấn của Thanh Quân nằm ở hai chữ “cô”, “viên” như thể nhà thơ đã vô tình đặt theo luật tương phản ở tiếng thứ 6 của hai câu thực. Nhà thơ không biết “người đánh cá” và “người chăn cừu” nghĩ gì và không biết họ sẽ đi đâu. Bằng cái nhìn đầy màu sắc chủ quan, nhân vật trữ tình đã dồn hết cảm xúc của mình vào hai hình ảnh đó. Một người độc hành trong chuyến du ngoạn tự nhiên bỗng cảm thấy cảnh vật xung quanh như thân phận của mình, thấy mình cũng trở thành “cô”, “xa” như thường. Tôi nhớ lại cảm xúc của người chinh phụ cô đơn ngồi trong đêm trăng rằm – bông hoa vô tri, vô giác:

Hướng dương in một tờ

Hoa lồng trăng nở từng bông một

Trăng hoa trăng trùng trùng

Trước hoa dưới trăng đau.

Dấu ấn chủ quan của nhân vật trữ tình thoáng hiện rồi biến mất giữa thiên nhiên:

Gió thổi đàn chim bay đi

Dặm liễu mù sương, từng bước

Sự tương phản trong bức tranh thơ gợi lên cái gì đó nhỏ bé mà yếu ớt của cánh chim và hình ảnh người khách giữa buổi chiều tà. Vẫn là “nghìn mai”, ngàn mai từng nở trắng trong thơ cổ (Bạch mai tuyết, hồng loan bờ – chinh phục ngâm) nhưng đặt cạnh hình ảnh “gió thổi” lại gợi lên sự bao la của không gian như muốn ăn tươi nuốt sống con chim nhỏ bên trong, như “con én về rừng” trong truyện Kiều và thêm một hình ảnh:

Họ đang bay cao và cao. Bạn đã độc thân trong quá khứ

trong thơ Lý Bạch ngày xưa. Con người luôn cảm thấy nhỏ bé trước thiên nhiên. Đối mặt với tự nhiên, người xưa mong muốn trở thành một mô hình thu nhỏ cố gắng hòa hợp (và thậm chí hòa tan) vào một vũ trụ rộng lớn, vô tận xung quanh họ. Vị “khách” đang “đi” qua “cây liễu” vẫn không thôi ám ảnh:

Ai có tóc màu xám?

Liễu ai gãy cầu còn tươi

(Nguyễn Bình)

hay tác phẩm kinh điển “Liễu Nương Kiều Triệt” với hình ảnh “Hoa sầu tàn giang sơn” (Trinh Cốc) hay hoài niệm:

Sông Tần một dải xanh

Cành liễu rũ cành Dương Quân.

nơi quê hương, nơi chia ly, nỗi nhớ người thân nhưng “Vĩnh biệt Quán hà, Xuân Đỉnh mau về Tào Đình” (truyện Kiều). Con người – nhân vật trữ tình (hay bản sao của hình tượng này: “khách”) – muốn lẩn trốn. Đó là đặc điểm vô ngã, vô ngã của thơ ca trung đại. Mọi người không xuất hiện ở nơi riêng tư. Nó chỉ thể hiện trong các mối quan hệ tập thể, xóm làng, thị tộc, họ tộc. Người ta đôi khi là “khách” trên chính quê hương mình như trong thơ Hạ Tri Chương:

Trẻ em cùng tuổi và không tương thích

Trò đùa: Người dùng đến từ vùng đất của tương lai?

hay trở thành “Chân Không Nhất Vương” hay “Giang Hán Tứ Khách” trong thơ Đỗ Phủ. Sự đơn độc và lẻ loi đã thấm vào nó một nỗi buồn khó tả. Nhịp “bước chân” chỉ là vẻ bề ngoài mà ẩn chứa nỗi lòng nặng trĩu của nhân vật trữ tình. Cảm xúc dồn nén trở thành câu hỏi:

Một người sống ở Zhangtai, người kia đi du lịch

Ai có thể nói chuyện với cảm lạnh?

Thơ Nho xưa thường chú trọng đến thế sự, luân lý, hay than thở về nhân sinh quan, tránh nói đến những chuyện riêng tư, những tình cảm riêng tư trong cuộc sống hàng ngày. Tuy nhiên, thơ ca nửa cuối thế kỷ 18 và nửa đầu thế kỷ 19 mang sắc thái ý tứ rõ rệt, chủ trương bộc lộ cảm xúc vốn bị đạo đức Nho giáo chi phối từ lâu. Có lẽ tiếng nói tiên phong của chinh phục ngâm, Cung oán hận, truyện KiềuThơ Hồ Xuân Hương là tiền đề cho hai liên tưởng này. Qua câu chuyện “Cường đại” và cặp đại từ nhân xưng “người ta – người ta” ta thấy được con người mà nhân vật trữ tình hướng đến chính là nửa kia của mình. Câu chuyện thơ “Liễu nhi, liễu đài chương – Chuyện Nhất Thanh Thanh Kim Trong Hoàng Cung? – Sự tích cố nhân – Giả ưng trích người khác” vẫn tồn tại như một minh chứng cho khát vọng đoàn viên, đoàn viên, sống trong hạnh phúc lứa đôi của người lữ khách. Chính vì cảnh du hành mà khao khát gặp được ai đó để sẻ chia, “kể lể” càng mãnh liệt. Nhu cầu sẻ chia ấy đã hiện hữu trong mỗi con người từ xa xưa.

Xem thêm bài viết hay:  Tên miền phụ là gì? Ưu và nhược điểm của việc sử dụng tên miền phụ

Bài thơ gói gọn trong thể thơ bảy, tám chữ của thể thơ Đường luật nhưng đã nói lên nỗi lòng của một người sĩ nữ. Nỗi niềm nhớ nhà của con người khi “Lòng còn gởi mây vàng” (truyện Kiều) là điều dễ hiểu. Trong không gian xa xôi của thời Trung cổ, con người cảm thấy cô đơn và yếu đuối khi phải xa quê hương thân thuộc, vì vậy họ chỉ cách nhà mười dặm. Nó không chỉ là mật mã nghệ thuật mà còn phản ánh phần nào hiện thực tâm trạng con người.

Bạn xem bài Giải Ngữ Văn – Bài văn: Phân tích bài thơ “Chiều nhớ nhà” (3) Bạn đã khắc phục vấn đề bạn phát hiện ra chưa?, nếu không, vui lòng bình luận thêm về Giải Ngữ Văn – Bài văn: Phân tích bài thơ “Chiều nhớ nhà” (3) bên dưới để imperialhotelschool.edu.vn thay đổi & hoàn thiện nội dung tốt hơn phục vụ độc giả! Cảm ơn bạn đã ghé thăm website THPT Trần Hưng Đạo

Thể loại: Văn học

Nguồn: imperialhotelschool.edu.vn

Bạn thấy bài viết Giỏi Văn – Bài văn: Phân tích bài thơ “Chiều hôm nhớ nhà” (3) có khắc phục đươc vấn đề bạn tìm hiểu ko?, nếu ko hãy comment góp ý thêm về Giỏi Văn – Bài văn: Phân tích bài thơ “Chiều hôm nhớ nhà” (3) bên dưới để Trường Cao đẳng Nghề Khách sạn Du lịch Quốc tế IMPERIAL có thể thay đổi & cải thiện nội dung tốt hơn cho các bạn nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website: imperialhotelschool.edu.vn của Trường Cao đẳng Nghề Khách sạn Du lịch Quốc tế IMPERIAL

Xem thêm bài viết hay:  Học từ xa remote learning là gì? Những điều cần biết về mô hình học từ xa

Nhớ để nguồn: Giỏi Văn – Bài văn: Phân tích bài thơ “Chiều hôm nhớ nhà” (3) của website imperialhotelschool.edu.vn

Viết một bình luận