Giỏi Văn – Bài văn: Nguyễn Bính và “kiếp con chim lìa đàn”

Bạn đang xem: Giỏi Văn – Bài văn: Nguyễn Bính và “kiếp con chim lìa đàn” tại imperialhotelschool.edu.vn

1. Nguyễn Bính trong mỗi chúng ta

Nỗi nhớ của con người thường gắn liền với một cái cớ nào đó. Hễ gặp duyên do kia là nhớ nhung cứ thế nhưng mà thức dậy, nhưng mà da diết. Tôi thường nhớ tới Nguyễn Bính mỗi độ xuân về. Nhất là lúc mưa xuân. Đấy cũng là lúc rời phố xá, tôi trở về quê nhà ăn tết với người thân. Tôi cứ thấy Nguyễn Bính về theo từng chấm mưa rắc bụi lên cỏ cây hoa lá, lên những võng tơ nhện óng ánh sương giăng mắc vệ đường, vệ đê, bụi hoang nơi đồng nội. Bấy giờ những nẻo đường quê dường như mềm hơn, mịn hơn. Những làn bụi từng bị rang khô dưới nắng hè, từng lầy lụa trong mưa dầm tháng bảy, từng xáo cuộn cùng xác lá trong gió heo may tháng mười giờ đã yên nằm trên mặt đường ẩm mát. Lấy móng tay gợi lên thì xốp tơi như lòng khoai lang bột đồng màu. Những hàng xoan se mình tím tái trong suốt mùa đông bỗng tươi da, nhựa đang chuyển mình lên những chồi hứa nhú. Nước giếng thơi như bỗng trong đầy. Hoa bưởi rắc phấn vàng xuống tóc người ngừng bước… Ở đâu tôi cũng thấy Nguyễn Bính. Cái gì cũng nhắc về Nguyễn Bính. Đó là lúc đã về tới cố quốc, về với tuổi thơ xưa. Nguyễn Bính cứ lãng đãng theo tôi trên mỗi bước đường làng. Tôi trò chuyện cùng ông như với một cố tri, một người vẫn ở mãi chốn quê, chỉ có mình là bỏ quê phiêu dạt. Nguyễn Bính là làn mưa xuân rắc mình lên chốn hương thôn, là lá dâu xanh dập dờn bướm vàng cuối bãi. Nguyễn Bính là chiếc lá lìa cành đầu ngõ, là chiếc mo cau rụng vội góc vườn. Nguyễn Bính là sắc nắng chiều man mác trên mỗi thân cau, là ngọn mùng tơi ngập ngừng nơi lưng giậu. Nguyễn Bính là tiếng trống chèo động lòng đêm hội, là cỗ tam cúc thắc thỏm giao thừa. Nguyễn Bính là mảnh khăn điều trẩy hội chùa, là cây lụa trắng đang về chợ làng xa. Nguyễn Bính là nỗi hờn tủi của những con đò. Nguyễn Bính là tiếng thở than của mỗi tấm liếp. Nguyễn Bính là những mảnh đời lỡ làng sau mỗi luỹ tre lối xóm. Nguyễn Bính là nỗi đoái trông của mỗi vườn cam mái gianh. Nguyễn Bính là đôi mắt đau đáu trong thẳm sâu lòng người xa xứ… Tôi nhớ Nguyễn Bính như là khắc khoải về xa xưa, về hiện nay của chính mình. Tôi, một đứa con sống trong lòng Tổ quốc còn thế. Trách chi cái anh chàng Việt kiều Hoàng Chính nào kia ở cuối thế kỉ hai mươi lênh đênh xứ người, nhớ về Tổ quốc là nỗi nhớ Tiếng Việt, nhớ tiếng mẹ đẻ, là nhắc nhau nhớ tới Nguyễn Bính:

Mười một năm trời đi biệt xứ

Em còn nhớ tiếng Việt Nam ko?

Lòng còn xôn xao Thơ Nguyễn Bính?

Chuyện”Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông

(Gửi vầng trăng phiêu bạt)

Nguyễn Bính là tiếng vọng cội nguồn trong lòng kẻ phiêu bạt. Nguyễn Bính là tiếng trở mình của rặng tre trong lòng kẻ tha phương. Nguyễn Bính còn là cái tiếng Việt trong lòng đứa con xa đất mẹ… Người nào đó nói trong mỗi chúng ta đều có một người thân quê. Sau bấy nhiêu năm, tưởng cũng có thể nói, trong mỗi chúng ta đều có một Nguyễn Bính, kể cả những người nào muốn chối bỏ điều đó. Sức đeo bám của Nguyễn Bính trong hồn mỗi người Việt lớn hơn chúng ta tưởng rất nhiều. Sau ca dao có nhẽ chỉ Nguyễn Bính mới có nổi sức đeo bám này. Hồn quê trong mỗi chúng ta hiện thời chẳng phải còn có tên là Nguyễn Bính ư?

Và lúc rời khỏi cố quốc ra với đời sống của mình chốn đô thị, tôi cũng luôn thấy nhớ Nguyễn Bính. Các đô thị càng mọc lên, các cao ốc càng ngất ngư, càng thấy nhớ Nguyễn Bính. Nguyễn Bính như là cái gì đang mất lại vừa như một cái gì ko thể mất. Là cái vô hình luôn hiện hữu, là cái hiện hữu nhưng mà vô hình.

*

Nhưng cái tên Nguyễn Bính tới với tôi từ bao giờ?

Người ta thường thích nhớ về “cái thuở lúc đầu lưu luyến đấy”. Tất nhiên, có lúc nhớ được, có lúc chẳng còn nhớ nổi, tất cả cứ nhoè lẫn nhạt nhoà. Phần mình, với Nguyễn Bính, thì tôi không thể nào quên. U tôi, chị tôi có ru tôi bằng Nguyễn Bính hay ko? Kí ức thuở nằm nôi, nằm võng ko thấy vọng lên câu nào. Còn như Kiều, Chinh phụ, Trương Chi, Hoàng Trừu, Tống Trân, Phạm Tải… thấy nhiều hơn. Trong tuổi thơ tít tắp của mình ở xứ Thanh, tôi thường đi phụ giúp u tôi làm trên lò gốm. U tôi là thợ vần, cả đời tay thì vo đất sét, chân thì đạp bàn xoay, cùng thợ chuốt làm ra đủ thứ chum, vại, thửng, hũ, cóng, ang… Các bà thợ vần, thợ chuốt vừa làm vừa tán đủ thứ chuyện, rồi hát hò, ngâm thơ, rồi tranh cãi nhau về nghĩa lí của câu tục ngữ này, câu thành ngữ nọ. Hôm đấy, một chị thợ chuốt còn trẻ, sau lúc chuyện vãn, đã cất lời ngâm một đoạn khá não nùng mùi mẫn:

Em ơi em ở lại nhà
Vườn dâu em đốn mẹ già em thương…

(Phải lúc vào cấp ba tôi mới biết nó là Nhỡ bước sang ngang). Tới chỗ “đêm nay là trắng ba đêm…”, chị ta ngâm tiếp là “Chị thương chị kiếp con chim lạc đàn”. Tức tốc, tôi nghe thấy tiếng phản đối của một bác thợ lò: “con chim lìa đàn chứ sao lại lạc”. Đang ngâm, bị cắt ngang, khác nào bị chẹn họng, và chắc là ko chịu được cái giọng chỉnh kẻ cả, chị kia cãi lại gay gắt: Cái ông này, vô duyên! Người ta nói chim lạc đàn chứ người nào nói lìa đàn bao giờ! Thế nhưng mà cũng đòi sửa! Bác thợ lò thấy cần phải đè bẹp đối thủ, phải thắng triệt để nên ra điều sành sỏi chữ nghĩa: Lạc thì thường, thì non nghĩa. Lìa mới lạ, mới già nghĩa, chữ mới chín. Đang bay cùng nhưng mà phải lìa khỏi đàn, thì mới đau chứ..”. Rồi bác ta còn bảo, nếu ko chịu, mai sẽ mang nguyên văn lên cho xem. Chị ngâm thơ đành rấm rứt nhưng mà yên lặng.

Cũng mãi sau này, tôi mới ngớ ra rằng, đó có nhẽ là cuộc tranh luận về tiếng nói thơ trước hết nhưng mà mình được chứng kiến.

Bởi cái lẽ “trước hết” đấy nhưng mà găm rất sâu vào lòng trí non nớt của tôi cái hình ảnh con chim lìa đàn. Nó cô lẻ. Nó cui cút. Thoi thót suốt tuổi thơ tôi. Lúc bấy, tôi ko ngờ, và có nhẽ ngay cả Nguyễn Bính lúc viết câu đấy cũng ko thể ngờ “con chim lìa đàn” đã thành chân dung tự hoạ (hay tự ám?) da diết nhất của Nguyễn Bính.

Thực ra, lúc đọc thi sĩ này, thấy bướm trắng bướm vàng bay loạn trong thơ ông, một vài người bèn coi bươm bướm là biểu tượng chuẩn nhất cho Nguyễn Bính. Đúng là hồn thơ này cũng có ngây ngất chuyện bướm hoa, cũng sinh ra những bóng bướm quyến rũ. Nhưng cũng tựa như dáng chập chờn của nó, bươm bướm chỉ thuộc vào cái phần tình tang lẳng lơ, phần bâng quơ phù hoa của vườn thơ Nguyễn Bính thôi. Một lúc khác, Nguyễn Bính có ví nỗi lẻ loi nhục nhằn trên đường đời của mình với con ngựa và người chị với chiếc thuyền nan:

Em vốn đường dài thân ngựa lẻ

Chị thì sông cái chiếc đò nan

Quê người đứng ngóng mây phiêu bạt

Bến cũ nằm nghe sóng lỡ làng.

Nguyễn Bính sinh năm Mậu Ngọ (1918). Ví mình như con ngựa ko chỉ là ý thức về thân thế long đong của mình, nhưng mà trong đó còn chứa cả một ý niệm về cái bản mệnh giời đày của mình nữa. Vẫn biết thân ngựa lẻ kia cũng chỉ là biến thể của cùng một cái tôi Nguyễn Bính. Song con chim lìa đàn vẫn cứ ám hơn cả. Nó vận vào thân phận nhiều trái ngang của thi sĩ. Nó mới thực sự là chân dung ý thức ngập tràn những sầu tủi của Nguyễn Bính. Nhưng mà trước hết là chân dung tự hoạ của cái Tôi trữ tình thi sĩ. Đó chẳng phải là một tư nhân đang tách ra khỏi bầy đàn, một cá thể đang tách khỏi đoàn thể, cái Tôi đang tách khỏi cái Ta? Nhưng với con chim kia, đó ko phải là một cuộc vùng lên cao ngạo, bứt phá ngang bướng, vượt thoát bất cần. Nhưng mà đó là sự chia li. Nó ko thể ko tách ra, nhưng cái nó cảm thấy rõ lúc vừa tách ra ko phải vũ trụ dành riêng cho sự vẫy vùng, trái lại, là sự chơi vơi, là nỗi cô quạnh. Lìa đàn là đánh mất điểm tựa vững chắc, mất vòng tay ôm ấp chở che. Lìa đàn, chưa tìm thấy mình đã đánh mất mình. Lìa đàn, chơ vơ giữa cõi, phiêu bạt tìm đàn. Và hình ảnh con chim lìa đàn đấy thực sự là một ám ảnh trong tiềm thức thi sĩ. Nó còn bay mãi trong hồn thơ Nguyễn Bính với những bóng vía không giống nhau:

Lẻ loi thân nhạn sang nam đấy

Thân em chẳng khác con chim non

Chơ vơ trong xứ người xa lạ

Sầu nghiêng theo cánh chim lìa tổ

Biết lạc về đâu lòng hỡi lòng?…

2. Ra đời trong biến thiên

Chấp nhận với những ấn tượng chủ quan, xem ra là điều ko thể. Cần phải trả Nguyễn Bính về với thời đại của ông, về với cuộc biến thiên chưa từng có ở chốn nước non bình lặng này[1] hồi đầu thế kỉ trước. Nguyễn Bính là con đẻ của cuộc biến thiên đấy hay nhân cuộc biến thiên này nhưng mà cái anh chàng thôn dân nghìn đời đất Việt đã nhỡ bước sang ngang, đã hoá con chim lìa đàn nhưng mà vì thế Nguyễn Bính?

Cuộc biến thiên tầm cỡ tương tự, bao giờ cũng vừa là một cơn bão tàn phá vừa là một cơn trở dạ của lịch sử. Tức là bao giờ cũng có hai mặt biện chứng: huỷ diệt và sinh thành. Sức mạnh phá hoại sẽ phá vỡ và phế bỏ nhiều cái cũ, mặt khác cũng nhân đó nhưng mà nhiều cái mới nảy nở sinh sôi. Phá huỷ dọn đường cho sinh thành, sinh thành biện minh cho huỷ diệt. Nó chi phối thực tại đời sống như một qui luật ko thể cưỡng được. Tất cả đều bị cuốn vào quĩ đạo vừa vô hình vừa hữu hình của nó. Cuộc biến thiên đó muốn đập vỡ một toàn cầu cũ để cho một toàn cầu mới ra đời. Nên điều thật khó tránh là, trong những cái bị tàn phá một cách say sưa, sẽ lẫn vào ko ít những trị giá thiêng liêng thuộc vào hàng bảo vật của nòi. Ko chỉ trên qui mô toàn xã hội, nhưng mà ngay trong mỗi một con người cũng đương diễn ra một cuộc biến thiên ngấm ngầm: con người mới đang đòi phải phế bỏ con người cũ. Nhưng mà chia li con người cũ bao giờ cũng đớn đau. Do đó trong xã hội cũng như trong mỗi cá thể, đều tạo nên hai thế lực: cải cách và thủ cựu, hai thèm muốn: một đằng quyết giành quyền sống một đằng quyết giữ quyền sống[2]. Tương ứng với nó là hai thái độ, hai tâm thế thời đại: hào hứng cái mới và lưu luyến cái cũ. Trong cái hào hứng, kế bên sự táo tợn nhạy bén, có cả những nóng vội vội vã. Trong niềm lưu luyến, song hành với thái độ thủ cựu khư khư ôm lấy những phản trị giá đã hủ lậu, lỗi thời, kệch cỡm, là nỗi thiết tha tới day dứt khắc khoải trước những trị giá có nguy cơ bị phá phách, tiêu huỷ, biến suy. Mỗi tâm thế đều là một nguồn mạch trữ tình lớn của thời đại. Niềm thiết tha khắc khoải ngấm ngầm trong xã hội và lòng người kia cho tới 1918 đã tìm thấy người thi sĩ của nó. Làng Thiện Vịnh, xứ đồng trũng chiêm khê mùa thối Vụ Bản, Nam Định đã sinh ra cho nền thi ca Việt một cậu nhỏ nhưng mà lớn lên sẽ lãnh cái sứ mệnh thi sĩ kia. Nguyễn Bính là sự cất tiếng của con người Việt nghìn đời trong cuộc biến thiên lớn lao nhưng mà đầy đớn đau đó. Và đây cũng là một lí do giúp ta hiểu vì sao, thơ Nguyễn Bính vẫn luôn làm xao động mọi tấm lòng Việt, tâm hồn Việt.

*

Nhưng mà con người Việt nghìn đời trong mỗi chúng ta là người nào nếu ko phải là con người tiểu nông với tất cả ưu nhược của nó? Trong một xã hội mấy nghìn năm “ko đổi nhưng nhưng mà trôi cứ trôi” đó, anh chàng tiểu nông kia vẫn sống yên ổn. Tới nỗi ta những tưởng đó đã là cái bản thể bất di bất dịch. Nhưng trước cơn biến thiên lung lay tới tận cội rễ, chàng tiểu nông ko thể còn yên ổn. Ko thể như cũ, lại chưa thể theo mới. Ngậm ngùi với cái cũ, hoang mang trước cái mới. Phấp phỏng, xốc xáo, ko yên định là cõi lòng của nó. Nguyễn Bính là tiếng lòng bất an của anh chàng tiểu nông, là tiếng lòng bất an của thời đại. Đứt rễ khỏi đất cũ, chưa bén rễ vào đất mới, lòng thời héo hon, lá thời héo úa. Nguyễn Bính là tiếng lòng héo hon của cuộc biến thiên kia.

Nền tảng ý thức muôn thuở của anh tiểu nông là con người cố kết, ý thức bầy đàn. Bầy đàn là chỗ dựa cho mỗi cá thể. Bầy đàn là vướng víu, nhưng bầy đàn là bình ổn. Bầy đàn là chốn giam thân, bầy đàn cũng là chốn nương thân. Cá thể bay nhanh trong bầy đàn, cá thể bay chậm cùng bầy đàn. Bầy đàn nhất nhất quyết định sức mạnh cá thể. Nhưng cơn biến thiên này đã khiến cá thể ko muốn và ko thể phụ thuộc vào bầy đàn. Mỗi cá thể cần phải là chính nó. Kẻ hào hứng thì hoan hỉ thấy mình thoát khỏi kiềm toả của bầy. Kẻ nặng căn thì sầu tủi vì thấy mình phải lìa khỏi đàn. Nguyễn Bính là tiếng nói sầu tủi của con chim lìa đàn đấy.

Trong đời sống cựu truyền trị giá tư nhân được xác định dựa vào việc làm tròn phận sự. Nghĩa vụ là lẽ sống, cũng là điểm tựa bao đời. Nghĩa vụ có thể là một ngáng trở, nhưng cũng là một bấu víu. Nghĩa vụ vừa là cánh tay bó riết vừa là vòng tay âu yếm. Nghĩa vụ khiến tư nhân phải hi sinh, phận sự cũng làm nên sự cao cả cho tư nhân. Nhưng, trong cơn biến thiên này, tiếng nói của khát vọng nhất tề trỗi dậy. Đôi cánh khát vọng muốn tuông ra khỏi dây nhợ phận sự. Thời trước, mỗi cuộc giao tranh giữa khát vọng và phận sự thường được dẹp yên bằng ý thức hi sinh. Còn giờ đây tư nhân lại xác định trị giá của mình ở tầm vóc của khát vọng. Cho nên cuộc giao tranh hoặc biến toàn cầu ý thức thành một trường đấu đẫm máu ko có hồi kết, hoặc kết thúc bằng thất bại tủi sầu của phận sự. Khát vọng thắng lợi. Nhưng là một thắng lợi đầy tự ti tội tình, dằng dai ko nguôi.

Nguyễn Bính là tiếng nói của cái tôi mang nặng tự ti đó.

Nội dung bao trùm của tự ti kia là gì?

Có thể nói đó là tự ti lỡ làng.

2. Cái tôi lỡ làng

Hơn chục năm trước, lúc khởi thảo những mẩu trước hết về Nguyễn Bính (phân tích bài thơ Xa cách, viết với Nguyễn Đăng Điệp), tôi chủ trương nói chung Nguyễn Bính bằng hai chữ “lỡ làng”. Phần vì nó là chữ trở đi trở lại rất nhiều trong Nguyễn Bính, phần vì thấy đây là một thảm kịch lớn, bao trùm lên toàn cầu thơ của thi sĩ này. Giờ đây, đọc vào Nguyễn Bính sâu hơn rồi, nhận rõ hơn tầm vóc của thi sĩ, tôi thấy chữ “lỡ làng” đuối nghĩa, đuối sức như con đò nhỏ ko còn chở Nguyễn Bính sang ngang được nữa. Chữ “lỡ làng” hợp với phận gái hơn, lại quá nghiêng về chuyện tơ duyên. Trong lúc, ngay cả lúc nước mắt lưng tròng – chỉ vài ngày hoen ướt đã hỏng mất một khăn hồng – thì Nguyễn Bính vẫn cứ là phận trai. Với lại, nỗi sầu tủi của Nguyễn Bính phải đâu chỉ có chuyện duyên phận lỡ làng, nhưng mà còn cả sự nghiệp dở dang:

Em đi dang dở đời mưa gió

Chị ở vuông tròn phận lãnh cung

Dang dở một thân nơi đất khách

Tết này ta lại ngắm hoa suông…

Vì thế tôi thấy chữ “lỡ làng” ưu thế hơn. Ko phải vì muốn đổi một từ láy sang một từ ghép cho nén, cho đúc. Nhưng mà quan trọng là phải chữ đấy mới nuôi nấng được thân phận Nguyễn Bính, tức là mới gồm được mọi hẩm hiu về cả duyên phận lẫn danh phận của cái tôi kia. Tìm tới chữ này để gọi Nguyễn Bính, tôi giật thột vì thấy: Tạ Tỵ trong cuốn Mười vẻ mặt văn nghệ đầu những năm 70 của thế kỉ trước đã tìm tới nó lúc gọi Nguyễn Bính là “thiên tài lỡ làng”. Nhưng xem kĩ, thấy chữ Tạ Tỵ nghiêng về cái nghĩa chỉ con người thực: hoàn cảnh đã tạo ra Nguyễn Bính như là một thi tài dở dang, với một thái độ tiếc rẻ gần với Phan Ngọc – “Nguyễn Bính chỉ còn thiếu một hiểu biết Tây học nên ko thành nổi thi sĩ đầu đàn…[3]”. Và chỉ có thế.

Phần mình, dùng chữ “lỡ làng”, tôi ko chỉ muốn nói thơ Nguyễn Bính là sự lên tiếng của những hoàn cảnh oan trái, những thân phận ngang trái. Nhưng mà quan trọng hơn, Nguyễn Bính là thi sĩ của cái lỡ làng, như một phạm trù trữ tình vậy. Bởi vì “lỡ làng” đâu chỉ là chuyện của riêng Nguyễn Bính, riêng của thời đại Nguyễn Bính, nhưng mà sau này và mãi mãi nó vẫn là một thảm trạng phổ quát của cõi nhân sinh. Có phải trên thế gian, thân phận nào cũng may mắn, cũng vinh hoa cả đâu. Ngay cả những kẻ nhiều khô hanh thông may mắn, có phải ko từng nếm mùi lỡ làng đâu! Song hành với sự thành đạt của nhân gian, bao giờ cũng là sự lỡ làng. Nhưng mà đã lỡ làng, làm sao tránh khỏi tủi sầu bi phẫn. Do đó, đây quả là một nguồn lệ vẫn ngấm ngầm đây đó trong lòng thế nhân. Có điều, ở Nguyễn Bính, ở thời Nguyễn Bính, thảm kịch đấy sắc sói hơn, đắng đót hơn. Ông sinh ra dường như để dành cho sự lỡ làng. Trời đày ông để ông phải làm tròn cái sứ mệnh oái oăm đó. Từ thân thế mình, Nguyễn Bính đã cất lên tiếng nói về một thảm kịch trùm cả thời thế, nhưng mà mở ra tới cùng, cũng là một thảm kịch nhân thế. Nếu thân thế Nguyễn Bính khô hanh thông, hẳn đã ko có nghiệp thơ Nguyễn Bính.

*

Nghiên cứu tiểu truyện nhiều nhà văn, lắm lúc thấy nghi ngờ cái tín điều đã thành mặc nhiên trong truyền thống: văn là người. Thực ra, chẳng phải nhọc lòng hoài nghi. Nó vẫn mặc nhiên là tín điều. Có chăng, cần phải hiểu thế nào về người thôi. Sự tương đồng giản đơn con người sinh hoạt với con người văn học thì rất dễ gây thất vọng, hẫng hụt. Bởi văn là sự lên tiếng của con người tâm linh, con người khát vọng. Khát vọng chân chính của một con người chính là biểu thị tập trung cho thực chất của người đấy. Và do đó tầm vóc khát vọng cũng quyết định phần lớn tầm vóc của tư nhân. Tôi chưa biết anh là người nào, nhưng hãy bộc bạch khát vọng của mình, tôi sẽ biết anh là người nào. Cho nên, văn là người, là cái con người đấy. Tức con người bên trong, con người bề sâu, con người khát vọng. Nhà văn Nguyễn Khải có lần nói, ko phải định thanh minh cho mình hay cho người nào, rằng: đối với anh nghệ sĩ, phần tốt đẹp, cao quí nhất của tâm hồn đã trút vào văn học hết rồi. Còn những gì trình bày trong sinh hoạt đời thường, đôi lúc chỉ là phần cặn bã của hắn nhưng mà thôi. Nguyễn Bính cũng thế thôi. Người ta đã kể ra chả ít chuyện nhếch nhác, bê tha, lôm loam của Nguyễn Bính trong sinh hoạt, giao tế. Đời thường lắm chỗ sao nhưng mà trái khoáy trái khoáy với con người trong văn học tới thế. Nhưng bức chân dung ý thức thực thụ là thuộc về cái tôi bề sâu của nghệ sĩ. Cái tôi đấy tự hoạ trong văn học ngay cả lúc nó ko hề tự giác. Nguyễn Bính đã trút vào thi ca tất cả những khát vọng sâu kín và cao quí nhất của mình. Cho nên chả vì cái bã bên ngoài nhưng mà nghi ngờ cái hồn bên trong. Cũng bởi sự ko thể tương đồng này nhưng mà trong nghiên cứu nghệ thuật mới cần phân biệt con người thi sĩ (ngoài đời) và cái tôi thi sĩ (trong văn). Cái tôi đấy là sự chung đúc của khát vọng. Nói cách khác, cái tôi là khát vọng thi sĩ được nhân hình hoá.

Và, theo tôi, cũng như những hình tượng nghệ thuật khác, hình tượng cái tôi là một nhất thể được tạo bởi sự hoà hợp (gồm cả tương tranh và chuyển hoá) của các đối cực.

*

Lỡ làng tạo nên cái tôi kia khởi đầu do sinh bất phùng thời. Hãy xuất phát từ nền tảng tư cách của cái tôi được gọi bằng anh chàng nhà quê, là gã chân quê Nguyễn Bính: một thôn dân – nho sinh. Nhận diện cái tôi Nguyễn Bính, nhiều người chỉ thấy đó là một thôn dân. Tức là chỉ thấy một phía. Nhưng mà chỉ thế thôi, thì chưa ra Nguyễn Bính. Ko phải một thôn dân thuần tuý, Nguyễn Bính là thôn dân – nho sinh. Cái ta vẫn gọi là hồn quê Nguyễn Bính ko phải một đơn chất. Trái lại, là hợp chất: con người thôn dân và con người nho sinh quyện với nhau trong một điệu hồn chung. Từ con người thực ngoài đời thành cái tôi trong thơ ca, Nguyễn Bính ko chỉ mang theo cái lai lịch “con nhà nho cũ”, nhưng mà chất nho sinh còn hiện rất rõ trong cốt cách của cái tôi đấy. Biểu thị tập trung nhất của nó hẳn là giấc mơ quan trạng.

Có thể nói, cái tôi đấy suốt đời vương vấn giấc mơ quan trạng. Trong thơ Nguyễn Bính, giấc mơ quan trạng luôn song hành với giấc mơ thanh đạm yên bình. Do đó, nó trở thành giấc mộng đôi: cả con người nho sinh và con người thôn dân cùng mơ chung một giấc mơ về “thời trước”. Thời trước với chàng thôn dân là thời “trai hiền bạn với gái đồng trinh”, thời của Hoa và rượu:

Đời say men rượu thơm hoa rụng

thời Thanh đạm vợ chồng thuận hoà, bạn hữu tri kỉ:

Nhà gianh thì sẵn đấy

Vợ xấu có làm sao

Cuốc kêu ngoài bãi sậy

Hoa súng nở đầy ao

Mấy sào vườn đất mới

Giồng dâu và giồng cam

Ko ngại xa người tới

Thăm tôi tôi cám ơn

Làng bên sẵn rượu ngon

Đêm nay ta đối ẩm

Tre nhà đương cữ ấm

Thả phanh là măng non

Đường làng ko tiện xe

Sớm mai người hãy trẩy

Cây nguyệt nằm suông mãi

Tôi xin đàn người nghe…

Cảnh sống êm đềm thế chẳng phải là mong ước nghìn đời của bất kỳ thôn dân nào?

Còn với anh chàng con nhà nho cũ, thì “thời trước” là thời vợ tảo tần tầm tang, chồng dùi mài kinh sử, thời của giấc mơ hồ điệp, thời của hiển đạt vinh hoa. Hoặc trạng nguyên trở thành phò mã:

Ngựa bạch buông chùng áo trạng nguyên…

lòng trạng lâng lâng màu phú quí, chờ “công chúa cài trâm thả tú cầu”. Hoặc quan trạng vinh qui về làng:

Chồng tôi cưỡi ngựa vinh qui

Hai bên có lính lệ đi dẹp đường

Tôi ra đứng tận gốc bàng

Chồng tôi cưỡi ngựa cả làng ra xem

hạnh phúc thật là trọn vẹn, đã đầy, viên mãn:

Đêm qua mới thật là đêm

Người nào đem giăng sáng giãi lên vườn chè…

Đó là cái thời lí tưởng nhưng mà nho sinh nào cũng hằng mong ước, khát khao, hi vọng. Thời đấy giải quyết được cho con người cả chuyện công danh lẫn chuyện nhân duyên, cả khát khao nhân sinh của một con người, cả nhu cầu thẩm mĩ của một nghệ sĩ.

Dù đã vào thơ theo qui luật tiêu biểu hoá, nhưng một cái tôi bao giờ cũng nảy nở từ con người thực ngoài đời của thi sĩ. Vốn là con nhà nho cũ gắn với thôn quê, “thời trước” đương nhiên là cái mẫu lí tưởng của Nguyễn Bính. Nhưng cái “thời trước” kia chỉ còn trong cổ tích, trong truyện nôm khuyết danh, trong những tích chèo nhưng mà ko khí yên bình vinh hoa của nó từng tưới tắm cho mộng mơ của Nguyễn Bính một thời. Ngày thì theo đòi búi tó củ hành với cậu ruột mình một nho sĩ thôn Vân, đêm thì chìm đắm trong những hội chèo thôn Đoài làng Đặng. Giờ đây, cuộc biến thiên lạnh lùng này đã bứt toàn cầu mộng kia khỏi hiện thời, thẳng tay ném vào quá khứ. Nó đã vĩnh viễn thành toàn cầu của hoài niệm. Thảm kịch của cái tôi đấy ở chỗ: là con người của “thời trước”, nhưng lại sinh ra ở thời này. Tây học đã trục xuất Hán học khỏi đương thời, Hán học đành ôm hận thui thủi đi về quá vãng.

Hiện giờ thời thế biến thiên

Nhà vua ko lấy trạng nguyên nữa rồi.

Thậm chí,

Khoa cử bỏ rồi thôi hết trạng

Giời đem hoa cỏ trả vườn tiên.

Lỡ duyên búi tó củ hành

Trường thi Nam Định trở thành trường bay.

Hình ảnh đầy quyến rũ của những Tống Trân, Nguyễn Hiền vĩnh viễn xa vời. Nhưng điều oái oăm là: Nguyễn Bính chỉ có thể được sinh ra bởi cuộc biến thiên đầy mất mát đấy. Giống như sự hỏng thi trường kì mới sinh ra Tú Xương vậy. Nếu ko chúng ta có thể có thêm một quan trạng một ông nghè ông cống nữa để rồi những học vị chức danh đấy tan ra mây khói, và sẽ hoàn toàn ko có một thi sĩ chân quê, ko thể nào có nổi một tác giả Nhỡ bước sang ngang.

Nhưng cái tôi Nguyễn Bính ko chịu lìa bỏ hẳn. Và đây chính là một khía cạnh tiêu biểu cho tâm trạng lãng mạn. Chỗ này, cái nhìn lí giải yêu cầu chúng ta phải xem xét rộng hơn một tí. Trước kia, người ta thấy mối bất hoà với thực tại chỉ là cơ sở tâm lí riêng của thiên hướng lãng mạn. Thực ra, bất hoà với thực tại là cơ sở tâm lí phổ quát của nghệ sĩ. Nếu niềm khát khao một hình thái lý tưởng lúc nào cũng thiêu cháy lòng nghệ sĩ, thì cũng có thể nói, bất hoà với thực tại phải được xem như tính chất nghệ sĩ. Tất nhiên chữ bất hoà cần được hiểu với các cung bậc không giống nhau: ko thoả nguyện, ko chấp thuận, ko hoà nhập, ko chấp nhận thực tại. Nếu chấp thuận với thực tại, tức là lí tưởng đã bị tiêu tán. Do đó niềm khát khao khiến anh thành nghệ sĩ cũng tiêu tán rồi. Nhưng vì sao bất hoà? vì nghệ sĩ bao giờ cũng thấy thực tại chưa giải quyết được cả nhu cầu tồn sinh lẫn nhu cầu thẩm mĩ. Tức là chưa giải quyết được khát khao về hạnh phúc và khát khao về cái đẹp. Thậm chí, trước một thực tại nào đó, ở mức cực đoan tột cùng, nó còn thấy thực tại thù địch với hạnh phúc chân chính của con người, thù địch với cái đẹp. Thế là, từ một gốc chung là mối bất hoà, nhưng mà các thiên hướng nghệ thuật có những xử sự không giống nhau. Sự không giống nhau bao trùm của các thiên hướng, có thể nói, cũng kể từ những phép xử sự. Lãng mạn thì đào sâu vào chủ quan vẽ ra một thực tại trong mong ước để thay thế thực tại bên ngoài. Hiện thực lại đi thẳng vào thực tại ngoài đời để phân tích nó, phanh phui nó, phê phán nó. Trong lúc thiên hướng cách mệnh dường như lại muốn cải biến nó. Vậy thực tại một kẻ lãng mạn mong ước là thế nào? Đó là thực tại trong hồi ức, huyễn tưởng, viễn tưởng. Hồi ức đưa nó về với quá khứ vàng son, với thời oanh liệt, phục hiện lại những dư ba dư ảnh, những hình sắc còn sót lại của một thời, nhưng mà nó cho rằng chỉ ở đó, cái đẹp và hạnh phúc mới tồn tại. Huyễn tưởng dẫn nó vào cõi yêu, cõi tiên, cõi ma, cõi đạo, vào tiền kiếp. Viễn tưởng lại dẫn nó tới một tương lai xán lạn mãi tận tít thò lò khơi… Cái tôi Lãng mạn Nguyễn Bính thì tìm về đâu? Về “thời trước” – “Thời trước làm sao thật thái hoà”. “Thời trước” thực là thiên đường đối với một thôn dân – nho sinh. Chàng chỉ còn tới được với cái thiên đường riêng đấy của mình bằng một cách duy nhất: mơ thôi. Nguyễn Bính đã ko ít lần ngán ngẩm kêu lên: “Nhưng mộng nhưng mà thôi, mộng mất thôi!”. Tuy nhiên, mộng mơ lại là một đời sống, một lối thoát ý thức ko thể thiếu của gã thôn dân – nho sinh lỡ thời đấy.

Đó mới chỉ là một phía của thảm kịch lỡ làng.

*

Ko thể thành quan trạng với giấc mộng vinh hoa, ko thể ở thôn hương với giấc mơ thanh đạm. Cả gã nho sinh lẫn gã thôn dân đều đã mất đi cái đích của mình. Cả hai nhất trí đồng tâm rời khỏi quê mình, xả thân vào quê người. Trên trục đường tha phương đấy, họ đã hoà vào một tư cách mới, một dung mạo mới: thi sĩ lãng tử. Và thế là mở ra một thảm kịch mới. Nó là thảm kịch tiếp nối nhưng mà cũng là thảm kịch nhân đôi. Gã thi sĩ giang hồ này muốn nhập cục nhưng mà ko xong. Đời sống giang hồ yêu cầu kẻ lãng tử phải quăng thân vào phong trần cát bụi, lấy lênh đênh làm đời sống, làm hạnh phúc. Muốn thế, phải có máu phiêu lưu. Trong lúc đó, phiêu lưu lại ko có sẵn trong gien tiểu nông của gã giang hồ bất khoái trá này. Nên tình trạng ý thức của gã là sợ phiêu lưu nhưng mà lại dấn bước giang hồ. Chàng thi sĩ này ko tìm thấy chất thơ thông thường của tiêu diêu tang bồng, ko thấy cái thú siêu thoát lãng mạn của ngao du sơn thuỷ. Trái lại, mỗi bước lênh đênh là một bước long đong. Dù chỉ là “giang hồ vặt”, thì kẻ giang hồ vẫn luôn chỉ thấy mình bị vây khốn giữa bao bất trắc, chỉ thấy cám cảnh cho cái phận nổi trôi giời đày của mình, chỉ cảm thấy thật chua chát: giang hồ là một cuộc đày cửa ải:

Cúi mặt soi gương chén rượu đầy

Bốn mắt nhuộm chung màu lữ thứ…

Ko hiểu vì đâu hai đứa lại

Chung lưng làm một chuyến đi đày.

Cũng ko có sẵn trong gien tiểu nông kia cái cao ngạo của một tư nhân lúc thoát li khỏi bầy đàn. Rời bỏ mái nhà sinh trưởng, cái tôi lên đường, sau cái khoảnh khắc cảm thấy tự do hết sức ngắn ngủi, nó tức khắc cảm thấy trống phía sau lưng, hẫng dưới chân bước. Tình trạng của nó là tình trạng của một con diều đứt dây. Chơ vơ là cái thường xuyên dày vò nó. “Chơ vơ trong xứ người xa lạ”, “Trơ vơ trên bến nước sông đầy”… Lòng nó ko có cái hùng tâm tráng chí kiểu trượng phu hành đạo vì nghĩa lớn, đành rằng. Nhưng mà ngay cả cái lâng lâng khoái thú của một cái tôi đang lên đường tìm kiếm bản thân cũng ko có. Ko có phấn hứng thấy thế là mình đã trưởng thành, đã tách khỏi “bầu nước ối” của mái nhà sinh trưởng. Cái nhưng mà nó thấy đúng là: Xểnh nhà ra thất nghiệp, như bao người mẹ tiểu nông vẫn ái ngại cho con cái.

Xem thêm bài viết hay:  Soạn bài Nói và nghe: Kể lại một trải nghiệm đáng nhớ, ngắn gọn, Ngữ văn lớp 6 – Cánh Diều

Trong cái gien tiểu nông đó cũng ko có sẵn cái lạnh lùng của kẻ sẵn sàng khước từ phận sự để mặc tình đuổi theo khát vọng. Lúc ở thì thấy khát vọng là trên hết, phận sự là vướng víu. Lúc đi bỗng thấy khát vọng là ích kỉ, phận sự mới thiêng liêng. Thế là tự ti lỗi đạo hành tội nó, càng bước đi xa càng nặng nề trầm trọng. Lỗi đạo với quê hương, lỗi đạo với gia đình. Nó thấy mình là kẻ tệ bạc, bạc tình:

Bỏ lại vườn cam bỏ mái gianh

Tôi đi cặp bồ với kinh thành

Đứa thương cha yếu thằng thương mẹ

Cha mẹ chiều chiều con nước mây,

nhiều lúc cái tôi đấy đã nức nở trong day dứt vì té ra mình là đứa con hư đốn vô nghĩa:

Con đi mười mấy năm trời

Một thân bé nhỏ nửa đời gió sương

Thầy đừng nhớ mẹ đừng thương

Cầm như đồng kẽm qua đường đánh rơi

Thày mẹ ơi! Thày mẹ ơi

Tiếc công thày mẹ đẻ người con hư…

Tóm lại, là giang hồ trong tự ti. Tự ti chơ vơ. Tự ti lỗi đạo, tệ bạc. Khí chất và lương tâm của con người tiểu nông cựu truyền trong thâm căn cố đế của cái tôi kia bị xốc xáo lên trong cơn biến thiên đó.

*

Có thể nhận rõ hơn dung mạo của cái tôi Nguyễn Bính trong tương quan với đương thời.

Cái Tôi Thơ mới thường nghiêng về sự hể hả bởi được giải phóng khỏi cái Ta. Nếu lẻ loi, thì thường là lúc phải đối diện với vũ trụ mênh mông, lúc ko có một cái Tôi khác để gắn bó. Nguyễn Bính khác. Trước hết, về Nguyễn Bính nhưng mà nói bằng lẻ loi, ko ra. Nguyễn Bính là nỗi cô quạnh. Không giống nhau có một chữ, nhưng là hai hồn vía. Ko phải trùng hợp nhưng mà tự ti chia li, tự ti chơ vơ lại bám riết lấy tâm tư Nguyễn Bính suốt cả đời ko chịu buông tha. Nhìn đâu cũng thấy chia li:

Con sào đẩy sóng thuyền nan lìa bờ

Chị thương chị kiếp con chim lìa đàn

Ngán ngẩm như lũ tàn quân lìa thành

Những cuộc chia li khởi tự đây

Anh em li tán lâu dần vì thế

Lìa cành theo gió lá luồn qua song

Sầu nghiêng theo cánh chim lìa tổ…

Nhìn đâu cũng thấy cui cút, đơn chiếc, vô định:

Hồn đơn chẳng có nơi nương tựa

Hồn đơn quằn quại xác gầy

Muôn vàn đơn chiếc đổ vào đầu tôi

Một người đi mấy mươi người thương nhớ

Ta đi nhưng biết về đâu chứ

Anh đi đó! Anh về đâu?

Nào biết về đâu kẻ ngước xuôi

Biết lạc về đâu lòng hỡi lòng…

Điều này ko thể ko có nguyên uỷ sâu xa từ ẩn ức mồ côi của Nguyễn Bính (mới ba tháng đã mất mẹ, rồi cha đi bước nữa, phải ở với người cậu, dù có được bù đắp tới đâu thì bản tính đa cảm của thi sĩ vẫn cứ trầm mình trong tự ti cui cút, chơ vơ). Nhưng tự ti này, oan trái thay, lại làm cho hồn thi sĩ cảm nhập được và mang chở được nỗi niềm lỡ làng của cả thời đại đấy. Tức là nỗi cui cút đầy xấu số kia bỗng trở thành cái giá oan trái nhưng mà Nguyễn Bính phải trả cho cái nghiệp thi sĩ của mình. Hay nói theo giọng khách quan thì nhờ thảm kịch tư nhân nhưng mà Nguyễn Bính đã thông cảm với thảm kịch của thời đại. Vì thế, cái Tôi Nguyễn Bính là nỗi cô quạnh vì mất đi điểm tựa thiêng liêng nơi cái Ta. Lìa khỏi cái Ta, cái Tôi đấy dày vò về Mất hơn là tự mãn về Được. Đơn độc trong tình ái. Đơn độc giữa xứ người. Đơn độc giữa đô thị. Đơn độc cả lúc đã về tới cố quốc.

Về phương diện văn hoá, Nguyễn Bính là con đẻ của cuộc hôn nhân đầy lỡ làng giữa nền văn minh đô thị hiện đại với văn minh thôn quê cựu truyền. Khác xa với những cái tôi thuần đô thị, Nguyễn Bính là cái tôi – phản – đô – thị. Lúc nào cũng mang nặng mối “sầu đô thị”. Cứ tưởng Nguyễn Bính chỉ là đứa con ra đời từ cuộc hôn phối giữa làn mưa xuân trong sạch với giậu mùng tơi dân dã. Nào ngờ lẫn trong làn mưa kia có chút bụi kinh thành. Cái chút bụi mơ hồ đã lặng thầm lớn lên thành ý hướng giang hồ. Và chính nó đã xúi giục Nguyễn Bính lên đường xả thân vào cát bụi với những cuộc giang hồ vặt, lúc sa vào bất khoái trá. Sang đò, bước lên bậc bến thứ nhất để vào toàn cầu đô thị quê người, Nguyễn Bính đã gửi lại bên kia bờ tất cả vườn cam mái gianh, bướm trắng tơ vàng, giàn giầu hàng cau… Nhưng rốt cuộc, Nguyễn Bính lại khởi đầu cuộc tìm kiếm chính những thứ đấy giữa phố xá đô thành nhưng mà ko tự biết. Hẳn nhiên, làm sao có thể thấy những thứ đấy trong cát bụi chốn này. Trục đường tìm kiếm loanh quanh kia tất lại dẫn cái tôi đấy trở về với nơi mình từ giã.

Nhưng, một khía cạnh rất đáng nói là: thảm kịch của cái tôi kia ko có tận cùng. Sinh ra từ cuộc tình đương giữa hồi dang dở giữa Đô thị và Thôn quê như thế, Nguyễn Bính đã cố chạy theo tìm sự nuôi nấng của từng phía, nhưng cả hai đều chối bỏ, mỗi bên phụ phàng theo một cách riêng. Thoạt đầu ánh sáng kinh thành mê hoặc, anh chàng chân quê đã tưởng có thể gửi mình vào đó, tìm thấy trong hứa hứa của nó những vinh hoa. Nhưng cuối cùng, chỉ là phù hoa:

Phồn hoa thôi hết mộng huy hoàng

Sớm nay sực tỉnh sầu đô thị.

Ngán ngẩm, chàng tìm lại chốn quê. Nguyễn Bính về quê ko phải như Đào Uyên Minh Qui khứ lai từ bởi quá chán ngán cảnh luồn cúi nơi trường đào mận. Ko phải như một nhà nho thành đạt và chán ngán, về quê theo lẽ xuất xử hành tàng, về ở ẩn lánh đời. Nhưng mà cái Tôi Nguyễn Bính về quê như một người suốt đời băn khoăn đi kiếm cách sống cho mình, suốt đời tìm kiếm công danh và chỗ đứng trong cái cuộc sống văn minh đô thị. Nhưng mà cuối cùng trắng tay vẫn hoàn trắng tay. Công danh dở dang, duyên phận lỡ làng. Cố quốc ngỡ bình lặng muôn thuở là thế cũng ko dung được một kẻ đã ngập hẳn về thôn ổ nhưng mà không thể rửa sạch khỏi lòng mối sầu đô thị ăn sâu. Yêu lắm lắm những gì chân mộc của cố quốc, nhưng giữa kẻ hồi hương và đất cũ đã có những cách trở vô hình ko thể vượt qua:

Ko còn người nào ở lại nhà

Hỏi còn người nào nữa? để hoa đầy vườn

Trăng đầy ngõ, gió đầy thôn

Anh về quê cũ có buồn ko anh?…

Một lần nhỡ bước sang ngang là cô quạnh vĩnh viễn. Nguyễn Bính là cái lỡ làng muôn thuở đấy. Nó là một thảm kịch ko biên giới.

Trên phương diện đạo đức thuần tuý, cái tôi Nguyễn Bính là con đẻ từ sự lỡ làng của phận sự và khát vọng, của chữ hiếu và chữ tình. Thời đấy, chữ tình được viết hoa và tô đậm hẳn lên, chữ hiếu mờ hẳn đi lùi lại sau hàng. Chữ tình muốn chia bào giã từ chữ hiếu:

Em ơi em ở lại nhà
Vườn dâu em đốn mẹ già em thương…

Miếu thiêng vụng kén người thờ

Nhà nhang khói lạnh chị nhờ cậy em.

Nhưng vừa quay gót đã gục đầu xuống, úp mặt vào hai bàn tay nhưng mà nức nở tức tưởi:

Úp mặt vào hai bàn tay

Chị tôi khóc suốt một ngày một đêm.

Cái Tôi muốn khẳng định mình, nhưng lúc từ giã mái nhà sinh trưởng, xa vắng vòng tay của cái Ta, nó vừa thấy cô quạnh yếu ớt lại vừa thấy mình là kẻ phụ rẫy đáng chê trách. Những phận sự thiêng liêng ngày trước ràng buộc là thế. Mỗi lúc cần chọn lựa, bao giờ nó cũng giành được vị thế độc tôn, tất cả những thứ khác đều phải nhượng bộ hi sinh. Nay khát vọng tư nhân bùng nổ, nó thấy mình là hơn hết thảy. Nó đòi phải được sống đã đầy. Nhưng ở trường hợp Nguyễn Bính, nó dứt áo ra đi chỉ để đạt được sự lỡ làng, còn bản thân nó thì xoành xoạch dang dở. Nhỡ bước sang ngang, phận sự đã ko tròn, khát vọng cũng chẳng thành. Dang dở vĩnh viễn. Nói ý thức tư nhân ở Nguyễn Bính khác xa với những trường hợp khác là thế. Nó ko phải tiếng nói tự trọng, tự kiêu, tự đại một chiều cực đoan. Ko phải cái Tôi hiếu thắng lúc thoát khỏi cái Ta. Nhưng mà nó là cái tôi đầy tự ti. Lúc nào nó cũng thấy mình là kẻ tệ bạc với cái Ta đó. Thèm được thoát li khỏi cái Ta cố kết. Nhưng chưa thoát li đã tức khắc thấy mình là kẻ sao nhưng mà bạc tình.

Mẹ cha thì thương nhớ mình

Mình đi thương nhớ người yêu xa xôi.

Nhưng nhưng mà lại ko thể khác. Cho nên mỗi bước đi trên đường đời là một bước ngoái lại thăm thẳm phía sau,

Thầy ơi đừng chặt vườn chè

Mẹ ơi đừng bán cây lê con giồng…

mỗi cuộc đi là một cuộc dày vò đày cửa ải chính mình. Hành trình lìa quê cũng là hành trình của ăn năn, của khắc khoải cố quốc. Chưa đi đã thấy ngay là mình vừa đánh mất một cái gì thiêng liêng hệ trọng nhất của đời mình, của cuộc sống này.

Tóm lại, cái tôi Nguyễn Bính từ bỏ quê để luôn khắc khoải nhớ quê, tìm vào đô thị để chán ngán đô thị, tìm kiếm công danh chỉ gặp dở dang, theo đuổi tơ duyên chỉ gặp lỡ làng. Dứt bỏ phận sự để chạy theo khát vọng: phận sự ko tròn, khát vọng tan vỡ. Cái gì của nó cũng lỡ làng. Cho nên Nguyễn Bính là cái tôi lỡ làng của thời đại đấy. Tôi cho rằng chính Nguyễn Bính, chứ ko phải người nào khác, mới là nhà Thơ Mới mang đầy đủ tấn thảm kịch của thời đại mình. Một tâm trạng bất khoái trá mênh mông dằng dặc.

Cái tôi Nguyễn Bính vẽ ra trong toàn cầu nghệ thuật của mình là một người cả đời cứ lang thang tìm kiếm chính mình. Càng đi, dường như càng lỡ lầm, càng đi càng ko thấy. Mọi hứa hứa đều chỉ là ảo giác. Công danh, Hạnh phúc đều ko thấy? Đều ko dành cho mình? Đều ko có? Cuối cùng cái tôi đấy hi vọng tìm thấy mình (tìm thấy mình hay tìm lại được mình? có nhẽ là cả hai) lúc đã về lại nơi nhưng mà mình đã từ bỏ một cách vội vã nông nổi. Nhưng rồi Nguyễn Bính đã ko tìm thấy. Ko có chỗ nào cho mình. Đô thị ko. Thôn quê ko. Quê người ko. Quê mình cũng ko. Lìa đàn cũng có tức là lạc loài. Nguyễn Bính là sự lỡ làng trọn kiếp con chim lìa đàn ko chỉ trong cái thời đại lỡ làng đó.

4. Cố quốc, cố tri, cố viên

Tôi vẫn cho rằng toàn cầu nghệ thuật của một thi sĩ lãng mạn, xét tới cùng, là sự đan dệt của ba hệ thống hình tượng cơ bản: Tôi – Người yêu – Toàn cầu. Trong đó nhập vai trò trung tâm và quyết định tới toàn thể dung mạo của toàn cầu nghệ thuật đấy phải là hình tượng cái Tôi. Bởi vì, cũng lại xét tới cùng, toàn thể toàn cầu nghệ thuật của một nghệ sĩ chính là toàn cầu tâm tình của nghệ sĩ được tượng hình hoá, hình sắc hoá nhưng mà thôi. Hình tượng Người Tình, về thực chất là một đối ảnh của chính cái tôi thi sĩ. Còn toàn cầu xung quanh bao giờ cũng là toàn cầu thuộc về cái tôi: hoặc cái tôi đấy đang phổ lòng mình vào toàn cầu, hoặc cái tôi đấy thấy toàn cầu xung quanh vận vào mình. Đối với một nam thi sĩ, bộ ba đấy là Tôi – Em – Toàn cầu. Chúng chẳng qua chỉ là tam diện nhất thể nhưng mà thôi. Nói một cách khác, toàn cầu nghệ thuật của nghệ sĩ là một cõi thống nhất, trong đó bất kỳ một hình sắc nào cũng mang khí huyết hồn vía của cái Tôi kia. Toàn cầu Nguyễn Bính ko nằm ngoài qui luật chung đó. Cái Tôi Nguyễn Bính sẽ phổ những lỡ làng của nó vào mọi hình sắc của cõi thơ đấy, nhưng mà đồng hoá tất cả thành những vang bóng của cùng một cái tôi, kể cả cố tri, cố quốc và cố viên.

Tôi muốn phức tạp hoá một tí xung quanh chữ “cố”. Chữ cố trước hết với Nguyễn Bính phải là “cố thủ”. Phải, thi sĩ của hồn quê đã cố giữ cho được chân quê. Chân quê với hồn thơ Nguyễn Bính tựa như đất mẹ đối với thần Ăngtê vậy. Nó là truyền thống, là trị giá văn hoá, là lẽ sống, là nguồn sống đối với hồn thơ quê. Nó là “của tin còn một tí này”, là vật thiêng, là bảo vật của đất quê. Cố giữ với hi vọng nó sẽ thoát khỏi cơn biến thiên. Vật đổi sao dời, tao đoạn qua đi, rồi vẫn sẽ còn chân quê tinh khiết. Nhưng ngay cả lúc “van em em hãy giữ nguyên quê mùa”, thi sĩ cũng đã thấy thật khó tin là nó ko thay đổi. Trong cơn biến thiên đấy, “cả tới ông giời cũng thay đổi”…. kia nhưng mà! Nếu quả có một đức tin bất di bất dịch rằng chân quê bất chấp thời thế, dù có biến thiên thế nào, nó vẫn cứ là một hằng số, thì vững chắc đã ko có Nguyễn Bính. Thơ Nguyễn Bính là tiếng nói của lo lắng chứ ko phải của đức tin. Nó nghiêng về thấp thỏm, phấp phỏng, hoang mang hơn là đinh ninh, xác tín, kiên định. Cơn biến thiên đang làm cho tất cả những gì Nguyễn Bính cố níu giữ trở thành xưa cũ. Nó gỡ khỏi tay, giằng khỏi tay Nguyễn Bính tất cả những gì thân yêu nhất ném trả vào quá khứ.

Vì thế, mới có chữ “cố” thứ hai. Cố là “cũ”, là”xưa”. Phải, nói tới Nguyễn Bính là phải nói tới “Cố quốc”, “cố tri”. Nhưng mà nằm sâu trong lòng cố quốc là “cố viên” (vườn cũ, vườn xưa), và nơi lưu giữ những kỉ niệm từng có với cố tri cũng là “cố viên”. Cố quốc, cố tri và cố viên là những hình bóng da diết nhất trong cái vẫn được gọi bằng chân quê của Nguyễn Bính.

*

Một trong những nét giúp chúng ta phân biệt rất rõ Nguyễn Bính với các nhà Thơ Mới khác là quan niệm luyến ái. Quan niệm luyến ái của Nguyễn Bính nghiêng về truyền thống: tình yêu gắn liền, thậm chí tương đồng với hôn nhân. Nhân duyên trong thơ Nguyễn Bính ko có chủ trương những cái tình thân thiện, cái tình xa xôi, cái tình trong phút chốc, cái tình ngoài thiên thu[4]… theo điệu sống hiện đại nhưng mà những cái tôi thuần đô thị bấy giờ chủ trương và tích cực. Trái lại, chưa gì đã suy tính chuyện trăm năm. Cứ thích trói buộc nhau vào hôn nhân với những cau trầu:

Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông

Cau thôn Đoài nhớ giầu ko thôn nào!

Vì thế nhưng mà, phải đận cau héo, giầu vàng thì đôi bên trầm luân trong nước mắt của tự ti phụ phàng. Toàn cầu tình yêu của chàng thôn dân – nho sinh là một toàn cầu hoà hợp êm đềm dựa trên một luyến ái quan truyền thống. Nhưng cơn biến thiên đã làm cho cái toàn cầu tình yêu cựu truyền kia bị vỡ vụn. Cái tôi thành một tình nhân lỡ làng. Thế là tất tật mọi thứ đều lỡ làng theo.

*

Ngoài hình tượng cái tôi, nhân vật của Nguyễn Bính thuộc về hai nhân vật lớn: tình nhân lỡ làng và những thân phận lỡ làng khác. Tức là, toàn cầu Nguyễn Bính đều là những mảnh đời lỡ làng. Tình nhân lỡ làng có hai dạng: thứ nhất, ko có được – do lỡ làng nhưng mà mĩ nhân chẳng thành tình nhân; thứ hai, ko giữ được – do một lỡ làng nào dó nhưng mà tình nhân đã trở thành cố tri. Tất cả làm cho mọi cuộc tình của cái tôi đấy[5] đều dang dở lỡ làng.

Này là những mĩ nhân có tên: nào Oanh (Oanh, Nhớ Oanh), nào Dung (Oan trái), nào Nhi (Hoa và rượu)… Này là những mĩ nhân ko tên: nào cô hái mơ già, người con gái ở lầu hoa, những cô gái miền sông Hương núi Ngự, người láng giềng, người con gái vườn Thanh… Có những trường hợp do nàng lạnh lùng quá, giấc mộng nhân duyên cứ thế trôi xuôi rồi tuột mất:

Cô hái mơ ơi

Chẳng trả lời nhau lấy một lời

Cứ lặng nhưng mà đi rồi khuất núi

Rừng mơ hiu hắt lá mơ rơi

Rồi như sông Nhuệ lạnh lùng trôi

Cô lạnh lùng đi chẳng trả lời

Những tiếng lòng chàng tha thiết gọi
Ở trên gác vắng lạnh lùng ơi!

Có lúc chính những dẩm dở ko đâu đã làm ra dang dở. đấy là cái đám cô nàng nhà lắm bưởi nhiều hoa. Ngày nào cũng cất công “đường gần tôi cứ đi vòng cho xa” rồi, thế nhưng mà ma xui quỉ khiến thế nào lại “lên cơn thể diện hão”, suy bụng ta ra bụng người:

Một hôm thấy cô cười cười

Tôi yêu yêu quá nhưng hơi phật lòng

Biết đâu rồi chẳng nói chòng:

Làng này khối đứa phải lòng mình đây,

thế là lỡ duyên:

Từ ngày cô đi lấy chồng

Gớm sao có một quãng đồng nhưng mà xa

Bờ rào cây bưởi ko hoa

Qua bên nhà thấy bên nhà vắng teo.

Cũng có lúc do nàng bọt bèo quá:

Nàng bọt bèo quá em lăn lóc

Em đi dệt mộng cùng người

Lẻ loi xuân một góc trời riêng anh,

vả chăng, em cũng ko phải là ko bọt bèo:

Láng giềng có người con gái lẻ

Ý chừng duyên nợ với nhau đây

Chao ôi ba bốn tao ân ái

Đã đủ tan tành một kiếp trai

Tôi rờn rợn lắm mĩ nhân ạ

Đành phụ nhau thôi kẻo tới ngày

Khăn gói gió đưa sang xứ lạ

Người nào cười cho được lúc chia tay.

Nhưng mà thường lúc là do những cách trở xa xôi:

Nhớ Oanh tôi nhớ cô Oanh

Xa xôi cách trở hỏi tình thắm phai.

Rất nhiều lúc là bởi những cách trở ko đâu:

Nhà nàng ở cạnh nhà tôi

Cách nhau cái giậu mùng tơi xanh rờn.

Có thế thôi nhưng mà hai người đành sống giữa lẻ loi, và rồi cuối cùng mùng tơi cách trở đã hoá thành âm dương cách trở:

Đêm qua nàng đã chết rồi
Nghẹn ngào tôi khóc quả tôi yêu nàng.

Họ vĩnh viễn không thể thành lứa đôi. Đớn đau tiếc thương thì đà quá muộn. Cũng ko ít cuộc họ đã có được nhau, họ đã thề thốt đủ đằng, nhưng rồi những dự cảm mơ hồ về rủi ro, những ám ảnh khôn nguôi về nghèo túng, lo sợ vì đồng tiền làm cho khốn đốn, hay đơn giản chỉ vì những xui khiến tối tăm nào đó… thế là kẻ lỡ duyên, người lỡ thời, đâm ra lỡ cả đôi đường. Mĩ nhân lỡ làng hoá thành cố tri:

Xây bao nhiêu mộng thế nhưng mà

Tới nay phải gọi người là cố tri.

Ko biết do mình lỡ làng nên chỉ toàn chú ý tới những phận lỡ làng – đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu? đồng bệnh tương liên? “cùng một lứa bên trời long đong”? – hay do những kiếp lỡ làng cứ ám vào mình, nhưng mà toàn cầu nhân vật Nguyễn Bính toàn những mảnh đời lỡ làng. Người mẹ goá này tiễn con đi lấy chồng (Lòng mẹ), người mẹ goá khác đang dằn lòng uỷ thác bầy con dại cho đứa con gái lớn để mình đi bước nữa (Bước đi bước nữa), ông chồng chết non trăng trối người vợ trẻ những lời đắng chát (Giối giăng), cô gái miền rừng van xin người yêu:

Nhà em cách bốn quả đồi

Cách ba ngọn suối cách đôi cánh rừng

Nhà em xa cách quá đỗi

Em van anh đấy anh đừng thương em.

Cô gái phải cầm lòng từ chối lời ngỏ của người yêu vì gia đạo nặng nề,

Chưa trọn đạo con, tròn nghĩa chị

Lòng nào dám tưởng tới duyên tơ.

Rồi thì cô lái đò, anh lái đò dang dở giấc mộng tơ duyên, dở dang giấc mơ quan trạng, dở dang tới mọi suy tính đường đời:

Lang thang anh dạm bán thuyền

Có người giả chín quan tiền lại thôi.

Rồi nàng trinh nữ vội lìa đời lúc mới chớm xuân xanh, ngang trái tang thương tới nỗi cái tôi đấy tưởng như cả “kinh thành Hà nội chít khăn xô”… Nhưng có nhẽ tiêu biểu nhất cho những mảnh đời lỡ làng đó phải là cô gái trong Mưa xuân và người chị Nhỡ bước sang ngang (Nhiều bài khác Nguyễn Bính sẽ gọi đích danh là chị Trúc – Thư gửi chị Trúc, Khăn hồng, Xuân Tha Hương, Xuân lại tha phương, Xuân vẫn tha phương). Một cô nhỏ vừa mới thành thiếu nữ lúc những hạt mưa xuân trước hết phân phất bay về, lòng phơi phới nhận lời hứa trước hết, vội vã tới với cuộc hò hứa đầu đời. Thế nhưng mà lỡ:

Chờ mãi anh sang anh chả sang

Thế nhưng mà hôm nọ hát bên làng

Năm tao bảy tuyết anh hò hứa

Để cả mùa xuân cũng lỡ làng.

Thật là trẹo! Cuộc lỡ làng đầu đời đấy rồi sẽ như cái điềm chẳng lành, cái dớp định mệnh dễ làm dang dở cả những mùa xuân sau.

Mình em lầm lụi trên đường về

Nào ngắn gì đâu một dải đê
Áo mỏng che đầu mưa nặng hạt

Một mình thêm tủi với canh khuya.

Một người chị “đã liều nhắm mắt nhắm mũi đưa chân” tới hai lần sang ngang nhưng mà nhỡ bước vẫn hoàn nhỡ bước. Cuộc tình thứ nhất kết thúc bằng:

Mười năm gối hận bên giường

Mười năm nước mắt bữa thường thay canh

Mười năm đưa đám một mình

Đào sâu chôn chặt mối tình trước hết

Mười năm lòng lạnh như tiền

Tim đi hết máu cái duyên ko về.

Thế rồi một chàng nghệ sĩ xuất hiện. Và chị lại quyết định sang ngang. Nhưng rồi tình cũng đoạn:

Rồi đêm kia lệ ròng ròng

Tiễn đưa người đấy sang sông, chị về

Tháng ngày qua cửa buồng the

Chị về nhặt cánh hoa lê cuối mùa

Thế là tàn một giấc mơ

Thế là cả một bài thơ não nùng…

Những mảnh đời lỡ làng, ngang trái, oan trái cứ châu tuần xung quanh cái tôi đấy. Mỗi bước đi trên đường đời là lại gặp những số phận dang dở lỡ làng. Toàn cầu thơ Nguyễn Bính chan đầy nước mắt đau thương. Đọc thơ Nguyễn Bính người nào cũng phải mủi lòng cám cảnh.

Nhìn kĩ có thể thấy họ vừa là nạn nhân của cơn biến thiên trong thời đấy, vừa là nạn nhân của một thứ tiền duyên nghiệp chướng nào đó. Trong những năm được học chữ Hán cùng người cậu, hẳn các môn “nho y lý số”, chẳng ít thì nhiều, cũng đã nhập tâm vào cái anh chàng con nhà nho cũ kia. Để rồi lớn lên, cái nhìn lí số cũng nhuốm lên nhỡn quan của Nguyễn Bính, khiến thi sĩ nhìn nhận và lí giải cả mình và những thân phận lỡ làng như là thảm kịch trớ trêu của số mệnh:

Trót đà mang số sinh ly

Bao giờ tôi mới được về cố quốc?

Còn tôi giời bắt làm thi sĩ

Mẹ thì mất sớm giời đày làm thơ

Người nào bảo mắc vào duyên bút mực

Suốt đời mang lấy số long đong…

Tất cả những con người đấy đều bị số phận đày đoạ trong nỗi long đong bởi chữ tình chữ duyên.

Đoái thương thân chị lỡ làng

Đoái thương phận chị dở dang những ngày

Mẹ cũng ko mong sướng lấy mình

Nhưng nhưng mà số phận bắt điêu linh…

Điều này cho thấy thảm kịch lỡ làng biểu thị trong toàn cầu thi ca Nguyễn Bính dường như vượt ra ngoài vòng thời thế, nhưng mà nó là chuyện của nhân thế. Nói cách khác, định mệnh đã chọn cái thời đấy để đày họ vào vòng trầm luân của cơn biến thiên.

*

Cũng phải thấy thêm rằng, toàn cầu nhân vật Nguyễn Bính rất thân thiện với những thân phận khổ cực trong văn học dân gian, đặc thù là bao người phụ nữ tủi phận tủi duyên trong những bài hát than thân.

Thân em như hạt mưa sa
Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày

Em như giếng nước bên đàng

Người khôn rửa mặt người phàm rửa chân

Thân em như miếng cau khô

Người thanh tham mỏng người thô tham dày

Nụ tầm xuân nở ra xanh tươi

Em có chồng rồi anh tiếc lắm thay,…

Các môtip dân gian đã từ ca dao dân ca nhập thân vào thơ Nguyễn Bính. Những mảnh đời lỡ làng hôm nay như là sự nối dài tự nghìn xưa. Những số phận nổi chìm, long đong dang dở về công danh, lỡ làng về tơ duyên nghìn đời nay sau những luỹ tre, bên những bến nước, những dòng sông… bao giờ cũng khiến con người xót xa cám cảnh. Vào cuộc biến thiên đấy, có thể họ có thêm những màu sắc mới, nhưng họ vẫn là những chị em ruột rà của những cô gái xưa, từng gửi lòng vào những tiếng hát than thân làm héo hon những luỹ tre, dang dở những cánh đồng, goá bụa những thân cò thân vạc… Đúng là Nguyễn Bính viết nhiều về những mối duyên quê, nhưng là mối duyên lỡ làng oan trái. Nguồn lệ chảy trong thơ Nguyễn Bính vẫn chảy bao đời trong tiếng hát than thân.

Vì tha phương nên mới có cố quốc. Cố quốc chính là quê hương trong lòng kẻ tha phương. Có nhẽ luôn ở trong nỗi khắc khoải của đứa con xa nên hình ảnh quê hương mới thân yêu tới thế. Tôi ko muốn nói rằng, trong lòng những người tại quê thì quê hương ko đẹp. Nhưng đúng là niềm canh cánh, nỗi day dứt, cùng những đau đáu khắc khoải đã choàng lên hình sắc quê kiểng những chất thơ nhưng mà người ko phải xa quê không thể nào có được. Có thể vì miếng cơm manh áo, vì những xô đẩy trong đời, con người phải rời bỏ quê hương bản quán, phải li hương. Tiếng gọi giận dữ nhất bấy giờ là một tiếng gọi có phần ích kỉ: làm sao để sướng hơn. Nhưng rồi xa quê, con người nhân văn, con người yêu nghĩa thức dậy. Nó thức dậy lúc trong lòng ta vỡ ra một khoảng trống ko gì bù lấp được. Khoảng trống thăm thẳm đấy chính là nỗi quê. Là nỗi vắng thiếu một điểm tựa trong tâm linh. Nó là một nỗi mồ côi. Mồ côi quê quán. Và nỗi hoài hương trở dậy, cồn lên trong lòng. Bấy giờ trong lòng con người lại thống thiết một tiếng gọi khác, tiếng gọi hoàn thiện tư cách, bản ngã. Như thế, thời thơ dại ta sống trong lòng quê, lúc đi xa, quê sống trong lòng ta. Càng đi xa, quê càng thao thức trong lòng. Càng khổ nghèo càng thương nhớ. Quê thức dậy tức là quá khứ thức dậy. Tức là con người đang sống về ngày trước. Nhớ quê cũng chính là nhớ mình. Nhớ quê là đời sống bản thể, nếu như người nào cũng thật sự có một bản thể. Nhớ quê là nhớ một phần đời của mình. Là nhớ cái thiên đường tuổi nhỏ. Vì thế, kẻ nhớ quê là kẻ bị mất thiên đường và đang khát khao trở lại thiên đường. Ko phải chỉ được sống tuổi thơ trong sung sướng, trong tươi đẹp thì nó mới là thiên đường. Niềm luyến tiếc những phần đời đã qua bao giờ cũng có công dụng cải biến tất cả thành thiên đường hạnh phúc, bất chấp những đắng cay khổ cửa ải. Ko người nào yêu sống, thiết tha sống bằng một người sắp phải lìa bỏ cuộc sống. Cũng như thế, có nhẽ ko người nào yêu quê nhớ quê bằng một kẻ phải xa quê, mất quê. Nguyễn Bính là tiếng nói cố quốc trong kẻ xa xứ. Nguyễn Bính là nỗi hoài hương dằng dặc trong lòng kẻ li hương.

Tô Hoài đã thật tinh nhậy lúc khẳng định rằng: “Chỉ có quê hương mới tạo nên được từng chữ từng câu Nguyễn Bính (…) Thơ và cuộc đời ràng buộc thi sĩ. Trước sau và mãi mãi, Nguyễn Bính vốn là thi sĩ của tình quê, chân quê, hồn quê[6]”. Niềm thiết tha với quê hương là cội rễ của những thông minh Nguyễn Bính nhất. Nhưng, phải nói thêm, niềm thiết tha kia chỉ thực sự thức dậy lúc cái tôi đấy xa quê. Quê hương trong Nguyễn Bính chính là cố quốc. Hơn thế nữa, là cố quốc trong tự ti lỡ làng lưu đày:

Trót đà mang số sinh li

Bao giờ tôi mới được về cố quốc.

Tự ti đấy đã làm cho Nguyễn Bính tạo ra hình tượng toàn cầu trong thơ với dung mạo tổng quát như là trường phiêu bạt lưu đày của những thân phận lỡ làng:

Em vốn đường dài thân ngựa lẻ

Chị thì sông cái chiếc đò nan

Quê người đứng ngóng mây phiêu bạt

Bến cũ nằm nghe sóng lỡ làng.

Đã thành trường phiêu bạt thì đương nhiên tự ti này cũng sẽ khiến giác quan thi ca Nguyễn Bính làm nốt phần việc tiếp theo: phân lập thực tại thành hai miền ko gian đối lập: quê mình – quê người. Cái tôi luôn là kẻ trôi dạt từ miền ko gian này tới miền ko gian kia như những chuyến giang hồ nhưng thực ra là những chuyến lưu đày, vừa bởi chuyện áo cơm, vừa do sự đẩy đưa của cảnh đời, sự run rủi của số phận. Tới đâu cũng chỉ toàn lỡ làng. Chân bước tới quê người, lòng gửi nơi quê nhà. Quê người có lúc được gọi theo đúng lời kẻ quê là “người đời”, có lúc là “xứ người”:

Chơ vơ trong xứ người xa lạ

Mấy thu mưa gió ngoài người đời

Quê người đắng khói, quê người cay men.

Trong cái gọi là “quê người” đấy, đô thị là vùng nhân sinh gây sầu tủi nhất. Có nhẽ trong cảm nhận của cái tôi kia, đô thị là hoàn toàn tương phản, thậm chí thù địch với thôn hương. Nếu quê mình là thiên đường thì quê người là chốn lưu đày. Nếu quê mình là nơi đoàn viên, thì quê người là chốn phiêu bạt. Nếu quê mình là vun trồng nuôi dưỡng, thì quê người, nhất là đô thị lại tàn phá tiêu huỷ. Nếu quê mình là thanh đạm bình ổn, thì đô thị quê người là nhiễu loạn cập kênh. Nếu quê mình là thôn ổ tình nghĩa, thì quê người là “cái biển tiền người ta”. Nếu quê mình là đất lành nôi ấm, thì quê người là cái “sòng đời”. Hình tượng toàn cầu trong thơ Nguyễn Bính là sự đối lập đấy, nhiều lúc cực đoan tới gay gắt. Coi cái tôi Nguyễn Bính là cái – tôi – phản – đô – thị, một phần ko nhỏ còn bởi chính điều đó.

Xem thêm bài viết hay:  Giỏi Văn – Bài văn: Soạn bài: Tính thống nhất chủ đề của văn bản

Quê mình, quê nhà của Nguyễn Bính hiện lên tập trung nhất ở gương mặt của thôn Vân, từ cảnh sắc tới con người, từ nhịp sống tới mọi nguồn sinh thú, tất tật đều bình dị nhưng mà thần tiên:

Thôn Vân có biếc có hồng
Hồng trong nắng sớm, biếc trong vườn chiều

Đê cao có đất thả diều

Giời cao lăm lắm có nhiều chim bay

Quả lành trĩu nặng từng cây

Sen đầy ao cá cá đầy ao sen

Hiu hiu gió quạt trăng đèn

Với dăm trẻ nhỏ thả thuyền ta chơi

Ăn gỏi cá đánh cờ người

Thần tiên riêng một góc trời thôn Vân.

Ơi thôn Vân hỡi thôn Vân

Nơi nao kết dải mây Tần cho ta

Từ nay lúc nhớ quê nhà

Thấy mây Tần biết đó là thôn Vân.

Ở đây vô số những trời xanh

Và một con sông chảy rất lành

Và những tâm hồn nghe rất đẹp

Từng chung sống dưới mái nhà tranh

Sao chẳng về đây múc nước sông

Tưới cho những luống có hoa trồng

Xuân sang hoa nụ rồi hoa nở

Cánh bướm vờn hoa loạn phấn hương

Sao chẳng về đây có bạn hiền

Có hương có sắc có tự nhiên

Sống vào giản dị ra tươi sáng

Tìm thấy trong lòng một cảnh tiên.

Ở chính giữa thôn Vân thân yêu đấy là “Nhà tôi”:

Nhà tôi có một vườn dâu

Có giàn đỗ ván có ao cấy cần?

Hoa đỗ ván nở mùa xuân

Lứa dâu tháng tháng, lứa cần năm năm

Em tôi là gái mười lăm

Quét sân chạy chợ chăn tằm sớm trưa

Thầy tôi dạy học chữ nho

Dạy năm ba đứa học trò loanh quanh

Có gì, tiếng cả nhà thanh

Cơm ăn đủ bữa, áo lành đủ thay…

Có thể nói đó là thiên đường chân quê của Nguyễn Bính. Người ta vẫn thấy, trong dòng thơ quê, nổi lên những gương mặt Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân, Anh Thơ… Người nào cũng viết về quê với những nét thật trìu mến. Đoàn Văn Cừ trội về tập tục quê, Bàng Bá Lân nổi về sinh hoạt quê, Anh Thơ vẫn được coi là mạnh về cảnh quê. Còn Nguyễn Bính dường như thâu gồm tất cả vào mình thành một thứ là hồn quê. Nguyễn Bính ko thiếu cảnh sắc, ko thiếu phong tục, cũng ko thiếu đời sống trốn quê kiểng. Nhưng viết về bất kỳ cái gì, Nguyễn Bính cũng gọi dậy cái hồn. Chính niềm thiết tha khắc khoải của một kẻ tha phương đã là ngọn gió nâng đỡ cho cánh diều hồn quê trong Nguyễn Bính luôn bay lượn. Chính niềm khắc khoải đấy mới mang lại hồn vía cho mỗi nét bút viết về chân quê của Nguyễn Bính. Căn nhà kia, mảnh ao kia, mảnh vườn kia, luống hoa, ruộng dâu nữa… có gì gớm ghê đâu nhưng mà đột nhiên lay động tới vậy? Đúng thế, chúng ko được vẽ theo lối mĩ lệ hoá, tân kì hoá. Nhưng chúng sống trong một khí quyển riêng, xuất hiện trong một vầng sáng riêng của mảnh hồn Nguyễn Bính. Mảnh hồn mang trong nó những dự cảm lo lắng, những nỗi bất an của kẻ tha phương, nỗi chơ vơ của kẻ mất thiên đường. Nó chỉ còn biết tìm ở chốn kia, ở những thứ quê mùa kia sự bấu víu duy nhất. Đó cũng là mảnh hồn mồ côi bản quán hương thôn.

*

Có nhẽ, cố viên là điểm tụ day dứt nhất của hồi ức cố quốc. Viết về Nguyễn Bính, nhiều người đã nhắc đến tới vườn, như một môtip lặp đi lặp lại, một tín hiệu mang nhiều trị giá thẩm mĩ của thi sĩ. Điều đấy cho thấy việc tiếp cận Nguyễn Bính đã đi vào chiều sâu. Tiếc rằng, việc tưởng tượng về nó đôi lúc lại chệch ra ngoài vùng thi cảm Nguyễn Bính. Đúng là đối với một thôn dân, nếu ruộng nghiêng về công dụng sản xuất, thì vườn lại nghiêng về công dụng văn hoá. Nhưng dùng kí ức tập thể của tộc người Việt để giảng giải, rằng quá trình dịch chuyển của người Việt là đi từ vườn xuống ruộng, theo nguyên lí tâm linh cái gì cũ hơn thì thiêng hơn, nên Nguyễn Bính viết về vườn nhiều hơn ruộng, thì đã uyên bác một cách vô lối. Thơ Tagor (Ấn Độ), Thơ Lorka (Tây Ban Nha), thơ Puskin, Êxênhin, Paxternac (Nga), thơ Ôcxtaviô Pat (Mêhicô), thơ Rôngxa, Veclen, Apôline (Pháp),… cũng đầy rẫy những vườn thì sao? Rồi cũng là thi sĩ Việt Nam, những Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Duy, Hữu Thỉnh, Trần Đăng Khoa… viết rất nhiều về ruộng thì sao? Trong họ ko có kí ức tập thể của người Việt ư? Tôi cho rằng cần phải tìm nguyên nhân ở chỗ khác. Trước hết là từ đặc trưng của thiên hướng Lãng mạn. Cũng hướng tới cái Khổ của con người, nhưng thiên hướng lãng mạn chưa quan tâm nhiều tới cái khổ của lao động. Lao động chưa phải là đề tài thực sự của lãng mạn. Cái họ quan tâm nhiều hơn là nỗi khổ vì lẻ loi của con người. Nếu quan tâm tới nỗi khổ trong lao động, hẳn nó phải nói tới ruộng nhiều hơn, vì nỗi nhọc nhằn trong vườn chẳng thấm gì so với trên ruộng. Đây cũng là điều phân biệt Nguyễn Bính với ca dao dân ca. Và quan trọng hơn là nguyên nhân hậu chính Nguyễn Bính. Là thôn dân, nhưng Nguyễn Bính thuộc tip thôn dân – nho sinh. Đời sống hàng ngày ít gắn với ruộng, trái lại, gắn với vườn nhiều hơn. Đồng thời, nó cũng còn là cái tạng riêng của mỗi tâm hồn nữa. Có thể cùng trong một môi trường thọ trưởng, nhưng người này nặng nợ với vườn, người kia lại tha thiết với ruộng. Bởi vậy nhưng mà chúng có những vị thế không giống nhau trong kí ức và trong thi ca từng người.

Nói ngay Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, cả ba đều có những ám ảnh vườn, nhưng mỗi vị một khác. Với Xuân Diệu là vườn tình, nó có bóng vía của những hoa viên, nơi dành riêng cho luyến ái trần thế. Với Hàn Mặc Tử, vườn lại là “chốn nước non thanh nhã”, có bóng vía những vườn Êđen trong Kinh thánh, hay Đào nguyên trong văn học Đạo giáo. Dù là tình tiên duyên tục thì vẫn cứ là vườn tình. Còn Nguyễn Bính, vườn là quê. Dù nhiều lúc gắn với giấc mơ quan trạng, về thời trước (Thời trước, Xóm ngự viên, Bóng bướm, Truyện cổ tích, Hoa và rượu…), thì vườn vẫn là gốc quê, chân quê:

Hoa chanh nở giữa vườn chanh

Thầy u mình với chúng mình chân quê.

Vườn là cố quốc:

Sương phủ lưng đồi rặng núi xa

Thương ôi, lữ khách nhớ quê nhà

Mấy thu mưa gió ngoài người đời

Vườn cũ còn chăng cúc nở hoa?

Vườn là cái nôi của tình mẫu tử:

Vườn cũ hoa mai chắc nở rồi

Cánh mai xoa dịu tới xa xôi

Mẹ ơi! một sớm thăm hoa rụng

Nhặt giữ giùm con dăm cánh thôi!

Vườn là hương hoả tổ tiên, là chốn đi về, là nơi bén rễ trước hết, cũng là nơi bám rễ cuối cùng của đứa con trôi dạt chân trời góc biển:

Xin thầy mẹ cứ yên tâm

Đừng thương nhớ một vài năm con về
Thầy ơi đừng chặt vườn chè

Mẹ ơi đừng bán cây lê con trồng.

Trong lời van xin đấy, ta có thể nghe thấy rõ nỗi bất an của một vong linh trước nguy cơ bị bật gốc khỏi cố quốc, nguy cơ bị tước đi điểm bấu víu cuối cùng. Ta có thể thấy rõ hơn về ý nghĩa của cố viên đối với Nguyễn Bính, lúc cái tôi đấy có ý thức rành mạch nhưng mà đau xót về vườn nhà mình (quê mình) và vườn nhà người (quê người):

Em giồng được một cây lê

Hứa hẹn bốn năm nữa thì về hái hoa

Nhưng là vườn đất người ta?

Mình là khách trọ một và đêm thôi.

Dù hoa có đẹp thì lòng vẫn cứ thờ ơ, lạnh lẽo, vì đó là hoa vườn người, nở cho người, mang tết tới cho người, chứ đâu phải cho mình:

Hoa mai quán trọ trắng như sương

Chen với hoa đào dưới khóm dương…

Quán trọ xuân này hoa lại nở

Lại ngồi xem tết tết người ta.

Nỗi đau xót này là mối tâm cảm của một lữ thứ, một kẻ cô quạnh. Nhưng ta cũng thấy âm u ẩm ướt trong đấy, mối xúc động kiểu tâm lí tư hữu thuộc con người tiểu nông – chỉ thực sự thấy an vui lúc nó là “của mình”. Lãng mạn Nguyễn Bính, cơ bản, vẫn là lãng mạn tiểu nông.

Nhưng mà, nhớ về vườn thì ko thể vắng thiếu những cây cối thảo mộc thân yêu. Đọc thơ Nguyễn Bính có thể thấy hiện tượng phổ quát này: mỗi thi phẩm thường có một nền tảng ko gian vườn tược, và mỗi một mối tình hay gắn với một cái cây. Vườn kia, cây kia có lúc là nơi nảy nở, có lúc là chốn tiêu tán, có lúc là chứng nhân, có lúc là nạn nhân của một mối duyên lỡ làng nào đó. Nào là cây chanh:

Hoa chanh nở giữa vườn chanh,

cây cam:

Ra vườn nhặt những hoa cam rụng

Về bỏ đầy nồi cất nước hoa,

cây bưởi:

Bờ rào cây bưởi ko hoa

Qua bên nhà thấy bên nhà vắng teo,

cây mai:

Nhà nàng ở gốc cây mai trắng,

cây dương:

Nhà ta ở dưới gốc cây dương,

nào là cây cau, giàn giầu:

Nhà em có một giàn giầu

Nhà anh có một hàng cau liên phòng,

cây chè:

Sáng giăng chia nửa vườn chè
Một gian nhà nhỏ đi về có nhau,

cây dâu:

Cành dâu cao lá dâu cao

Lênh đênh bóng bườm trôi vào mắt em,

cây mùng tơi:

Nhà nàng ở cạnh nhà tôi

Cách nhau cái giậu mùng tơi xanh rờn,

rồi thì cây xoan:

Bữa đấy mưa xuân phơi phới bay

Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy…

Bữa đấy mưa xuân đã ngại bay

Hoa xoan đã nát dưới chân giày,

cây lê:

Tháng ngày qua cửa buồng the

Chị ngồi nhặt cánh hoa lê cuối mùa,

nhưng mà chả ít lúc là cây ko tên:

Ngày qua ngày lại qua ngày

Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng…

Ko ít tứ thơ được lập theo cách xoay quanh những cái cây nào đó (Chân quê, Qua nhà, Tương tư, Mưa xuân, Cô hái mơ, Người láng giềng, Thời trước v.v…).

Lối cấu tứ đấy làm cho ko gian trong mỗi bài thơ Nguyễn Bính từa tựa như một sân khấu nhỏ, trên đó bài trí một cảnh quê, nhưng mà ở trung tâm của cảnh bao giờ cũng phải là một cái cây nào đó, vừa để tạo cảnh trí, vừa như một đạo cụ để nhân vật của một mối duyên quê lỡ làng tựa vào nhưng mà thổ lộ tâm tư. Ví như thi phẩm Ngày trước, cấu tứ xoay quanh vườn chè, Mưa xuân xoay quanh hoa xoan, Cô hái mơ xoay quanh rừng mơ, hay Qua nhà xoay quanh cây bưởi: Thi phẩm mở ra những hứa hứa với cây bưởi đầy hoa:

Lối này lắm bưởi nhiều hoa

Đi vòng để được qua nhà đấy thôi,

nhưng rồi lỡ làng. Nàng đi lấy chồng mất rồi, thế là bưởi ta cũng ko ra hoa nữa. Những thứ khác cũng buồn lây nhưng mà cô quạnh trống ko:

Bờ rào cây bưởi ko hoa

Qua bên nhà thấy bên nhà vắng teo.

Đặc điểm này cho thấy phần thâm thúy nhất trong hồn thơ Nguyễn Bính hoàn toàn thuộc về đất quê. Quê ko chỉ đi vào cảnh vào tình, nhưng mà đã can thiệp rất sâu vào cấu trúc hình tượng cũng như cấu tứ của các thi phẩm.

*

Niềm thiết tha với cố quốc cũng đem lại cho hồn thơ Nguyễn Bính một phân lập tương ứng về thời kì. Trong bốn mùa, Nguyễn Bính nghiêng về Xuân hơn cả. Mùa hạ thường đem lại cho thi sĩ những ức chế, mùa thu mùa đông khắc sâu niềm mất mát khổ đau. Chỉ có mùa xuân mới thực là mùa của hồn thơ Nguyễn Bính. Điều này cũng dễ hiểu. Mùa xuân là lúc thời kì khởi đầu một vòng quay mới. Đất quê lại vào kì mang mẻ sinh sôi. Cả xứ đồng lại khởi sắc. Tự nhiên hồi sinh sau những tháng ngày già cỗi tiêu điều. Lộc xuân nảy nở trong đất, trong cây, trong hồn người. Sau những nhọc nhằn vất vả, người quê được chút mát mày mát mặt đón xuân. Người ta tạm quên đi những nỗi lo đồng tiền bát gạo tháng ba ngày tám để sống trong rộn ràng lễ hội. Những đêm tình mùa xuân đây đó nơi những đám hội chèo, bên những vệ đê, trong những vườn cam, dưới những gốc bưởi… Mùa xuân còn là mùa của cuộc đoàn viên thiêng liêng đối với kẻ tha phương. Nhất là vào dịp tết, vẫn cứ trôi dạt xứ người thì cái tôi đấy càng thấm thía nỗi cô quạnh. Những lúc như thế, tỉnh rượu tàn canh, tiếng gọi cố quốc càng dội sâu vào cõi lòng trống hoang cô quạnh. Mùa xuân là mùa của nỗi hoài hương dằng dặc (Xuân tha phương, Xuân lại tha phương, Xuân vẫn tha phương…). Ta hiểu vì sao, cái duyên quê của cố quốc trong thơ Nguyễn Bính chỉ đặm đà vào lúc xuân về:

Đã thấy xuân về với gió đông

Với trên màu má gái chưa chồng

Bên hiên láng giềng cô láng giềng

Ngước mắt nhìn trời đôi mắt trong
Từng đàn con trẻ chạy xun xoe

Mưa tạnh trời quang nắng mới hoe

Lá nõn cành non người nào tráng bạc

Gió về từng trận gió bay đi

Thư thả nhân gian thôi việc đồng

Lúa thì con gái mượt như nhung

Đầy vườn hoa bưởi hoa cam rụng

Ngát hương hương bay bướm vẽ vòng

Trên đường cát mịn một vài cô

Yếm đỏ khăn thâm trẩy hội chùa

Gậy trúc dắt bà già tóc bạc

Tay lần tràng hạt mồm nam mô.

Có thể nói, lúc phân lập thành quê mình – quê người, Nguyễn Bính đã có những quan niệm thật dứt khoát. Quê người có thể có các mùa, nhưng ko thể có mùa xuân. Đặc thù, lúc quê người lại là đô thị, kinh kì thì nhất mực:

Kinh kì bụi quá xuân ko tới.

Không những ko có xuân, nhưng mà đó còn là chốn chôn vùi những mùa xuân:

Giữa nơi thành thị gió mưa phai

Chết dần từng nấc, rồi mai mốt

Chết cả mùa xuân, chết cả đời.

Mùa xuân chỉ về với quê mình. Mùa xuân là độc quyền của quê mình. Quê mình như một xứ sở vĩnh viễn xuân. Đó ko hẳn là sự thiên vị trong cảm nhận thời kì của cái tôi tiểu nông nhất nhất coi “làng mình là hơn cả”. Xét tới cùng, nó xuất phát từ tự ti lỡ làng, tự ti cô quạnh của một con chim lìa đàn “chơ vơ trong xứ người xa lạ”, hoài niệm cố quốc đã làm cho mảnh đất quê hiện lên với bao ưu ái. Như là nơi cứu rỗi cho vong linh cui cút chơ vơ.

Đối với Nguyễn Bính, chất thơ quyến rũ nhất của đất trời xuân chính là mưa xuân. Mưa xuân là đặc sản của tự nhiên xứ bắc, cũng là đặc sản của hồn thơ Nguyễn Bính. Hoàn toàn có thể gọi Nguyễn Bính là thi sĩ của mưa xuân. Trong màn mưa xuân, cố quốc hiện lên thân yêu thế nhưng mà cũng thần tiên tới thế. Trong số những thi sĩ viết về mưa xuân, chỉ có Nguyễn Bính mới có cái ngờ ngạc này:

Nào người nào nhìn thấy rõ mưa xuân

Tơ nhện vừa giăng tơ trắng ngần

Bươm bướm cứ bay ko ướt cánh…

Lá ngửa lòng tay hoa đón mưa,

cũng chỉ có Nguyễn Bính nghe ra giọng chuông ẩm ướt, mới nhận thấy thời kì luyến ko gian, luyến cảnh bằng màn tơ phảng phất lửng lơ, nửa như sương đậm nửa mưa thưa đấy:

Làng bên ẩm ướt giọng chuông mờ

Chiều xuân lưu luyến ko đành hết

Lửng lơ mù sương phảng phất mưa.

Ko biết Nguyễn Bính phải cám ơn mưa xuân hay mưa xuân phải mang ơn Nguyễn Bính, lúc những lời thơ mang được hồn mưa nhập vào hồn Việt. Nhất là những câu:

Bữa đấy mưa xuân phơi phới bay

Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy.

Đọc những câu như thế mới thấy ngay trong cả những gì mơ hồ ko đâu nhất, vẫn cứ rưng rưng lên những điệu hồn quê, phơi phới lên những nét duyên quê. Quyện trong hơi thơ đấy có nhịp tim đầy hi vọng của cô gái quê sắp đi tới cuộc hò hứa đầu đời, nhưng mà xem ra còn lẫn cả nỗi phấp phỏng của một cái tôi vốn đầy dự cảm lo lắng về những lỡ làng cứ đợi con người đâu đó nữa. Tôi muốn nói, ngay trong từng hạt mưa xuân hư thoảng đương tô điểm cho cố quốc, cũng mang một phần hồn cái tôi lỡ làng. Nó làm cho niềm cố quốc tha thiết tới se lòng.

5. Giọng điệu của hồn quê

Đọc Nguyễn Bính, có nhẽ người Việt nào cũng cảm thấy rõ tiếng thơ đấy mang đậm bản sắc dân tộc, mang đậm hồn quê. Người ta nhìn thấy điều này rất sớm, ngay lúc những tiếng thơ trước hết của Nguyễn Bính vừa mới cất lên. Nhưng mảnh hồn quê đó là thế nào thì thật khó tưởng tượng, khó nắm bắt. Hoài Thanh và nhiều người nghiên cứu khác cũng cho rằng đó là vấn đề ko thể hiểu được bằng lí trí[7].

Nhưng chẳng nhẽ lại chỉ chấp thuận với những cảm nhận thuộc về cảm tính? Trên thực tiễn nhiều người nghiên cứu sau Hoài Thanh đã cất công tìm kiếm. Người ta phát xuất hiện cách Nguyễn Bính bộc lộ tâm tình của mình gắn liền với cây cối thảo mộc chốn thôn quê: cây chanh, cây bưởi, cây cam, cây chè, giàn giầu, hàng cau, giậu mùng tơi, khóm cải hoa vàng, hoa cỏ may… với các địa danh đặc quê: thôn Đoài, thôn Đông, thôn Vân, làng Đặng… với những vật cảnh hương thôn: giếng thơi, giếng đá, đầu đình, bến đò, con sông, vệ đê, bãi đay, vườn dâu… với những bóng vía thôn dân: anh lái đò, cô lái đò, cô gái dệt, gã thư sinh, cô hái mơ, cô láng giềng, người mẹ già tầm tang tấm mẳn… với những tập tục: ngày tết quê, cảnh vinh qui, cảnh vu qui, đám hội chèo, đám lễ chùa, lễ kì an…

Đành rằng trong mỗi một sự vật dù nhỏ nhoi nhất đều ít nhiều mang chút hồn quê. Nhưng dầu sao đó mới chỉ là một phía, phía nhân vật.

Mình nhân vật ko thôi, chưa đủ đem lại hồn vía cho một thi phẩm cũng như cho một tiếng thơ. Vả chăng, nếu chỉ do nhân vật thì trong thơ của các thi sĩ khác thuộc dòng thơ quê đương thời và cả sau này nữa đều nhan nhản những nhân vật đấy, nhưng sao ta ko thấy đặm đà hồn quê. Như thế, yếu tố quyết định ko phải là nhân vật. Nhưng mà phải là chủ thể: chủ thể phải có được điệu hồn quê. Tức là tuy điệu hồn kia thuộc về tư nhân thi sĩ, cất lên từ tư nhân Nguyễn Bính, nhưng nó phải là điệu tâm hồn chung (hoặc một nét thâm thúy thuộc điệu hồn chung đấy) của dân quê từ bao đời nay. Ko có nó bao trùm lên toàn thể những cảnh vật kia thì khó nhưng mà dậy lên được hồn vía trong mỗi tiếng thơ quê của Nguyễn Bính.

Thực tiễn, điệu tâm hồn cũng là một khái niệm ko kém phần “mung lung”.

Tuy vậy, tạo nên cái gọi bằng điệu tâm hồn có vẻ “bất khả tri” kia, ko thể ko có một yếu tố ít nhiều xác định: điệu xúc cảm. Chữ “điệu” vẫn được dùng trong tiếng ta vốn nhiều nghĩa. Nét nghĩa được nói tới ở đây chính là những đặc điểm về hình thức, là việc hình thức hoá thành những kiểu cách, những mẫu hình ổn định. Chữ “điệu” trong các chữ dáng điệu, nhịp độ, vần điệu, nhạc điệu, làn điệu, nhạc điệu, thanh điệu, ngữ điệu, giọng điệu… về cơ bản theo nghĩa đó. Cho nên điệu xúc cảm, có thể hiểu là những dạng xúc cảm đã được điệu thức hoá, hình thức hoá.

*

Gần mười năm trước, trong tham luận “Về bản sắc dân tộc và một hướng tìm kiếm nó trong thơ”, trình diễn tại Trường viết văn Nguyễn Du, nhân hội thảo về “Vấn đề tính dân tộc trong thơ[8]” (4-1994), tôi có nói tới một hướng tìm bản sắc qua khái niệm “điệu thơ”. Hình như mỗi một dân tộc vẫn có một (hoặc một số) điệu thơ đặc trưng của mình. Người ta thường phải tìm nó trong thơ ca dân gian. Bởi thơ ca dân gian của một dân tộc bao giờ cũng trình bày đậm nhất tâm hồn riêng của dân tộc đấy. Khảo sát thơ ca dân gian Việt Nam, tôi thấy nổi lên hai điệu cơ bản: một là, điệu than (phổ quát nhất trong những câu ca than thân); hai là, điệu ghẹo (phổ quát trong những câu ca giao duyên). Hai điệu này song hành và nhiều lúc cũng hoà trộn vào nhau. Nhưng mà trong đó, điệu than có phần đậm hơn. Đây là điệu thơ dễ làm động lòng người, dễ làm mủi lòng người Việt nhất. Đơn giản vì nó cất lên từ cuộc sống cơ khổ dằng dặc của người Việt nghìn xưa. Ngọn nguồn của điệu than là nỗi cùng cực khốn khổ truyền kiếp của người tiểu nông bao đời. Giới nghiên cứu văn học dân gian cũng có một nhìn nhận thân thiện về xuất xứ và nội dung của ca dao dân ca. Một nhà nghiên cứu viết: “cảm tưởng về thân phận mình là thấy buồn, thấy khổ và tiếng hát cất lên thành tiếng hát thở than về mọi nông nỗi khổ đau và xấu số của kiếp người”, “Dân ca – ca dao dẫu khai thác bao nhiêu đề tài, rút lại cơ bản cũng là những biến tấu của hai “lời” đấy: dân ca – ca dao xưa chủ yếu là tiếng hát than thân phản kháng và là tiếng hát mến thương tình nghĩa của tất cả những người lao động và bị áp bức trong xã hội cũ[9]”. Đời này tạ thế khác, điệu than náu sẵn trong hồn người như một dây tơ lòng, có thể ví như dây độc huyền vậy, chỉ thoảng nghe một hơi thơ phảng phất điệu than vãn, là dây tơ đấy động ngay, rung ngay. Nói khác đi, điệu than chính là một mảnh hồn Việt.

Tôi muốn minh hoạ thêm bằng trường hợp bài ca dao “Cày đồng đang buổi ban trưa” qua cách luận giải rất đáng chú ý của Hoài Thanh để thấy ý nghĩa thực sự của điệu thơ này đối với việc đánh động những tấm lòng Việt:

Cày đồng đang buổi ban trưa

Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày

Người nào ơi bưng bát cơm đầy

Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần.

Đọc bài đấy, Hoài Thanh đã “yên trí đó là một trong những bài ca dao hay nhất của xứ ta từ trước”. Tới lúc có người bảo bài đấy gốc ở thơ Đường, con người sành thơ này đã rất ngạc nhiên. Ông tìm đọc và thấy đúng là tương tự, Lý Thân đời Đường có bài:

Sừ hoà nhật đương ngọ

Hãn trích hoà hạ thổ

Thuỳ niệm bàn trung xan

Lạp lạp giai tân khổ.

Khương Hữu Dụng dịch:

Xới lúa, trời đứng bóng

Mồ hôi đổ xuống ruộng

Người nào biết cơm trong mâm

Hạt hạt đều đắng cay.

So sánh, nhà phê bình đi tới kết luận “ý thơ rất giống: chắc ko phải là sự trùng hợp trùng hợp. Còn giọng thư lại khác. Câu hai của bài ca dao thêm tiếng “mồ hôi thánh thót”. Câu ba thêm một tiếng kêu “người nào ơi”. Câu bốn thêm cái ý “dẻo thơm” khiến đắng cay thêm bội phần đắng cay. Do đó nhưng mà toàn bài bỗng có cái giọng réo rắt, bi đát đã từng gặp phổ quát trong các bài ca dao của ta như:

Lao xao gà gáy rạng ngày

Vai vác cái cày, tay dắt con trâu

Bước chân xuống cánh đồng sâu

Mắt nhắm mắt nhắm mũi mở đuổi trâu ra cày

Người nào ơi bưng bát cơm đầy

Nhớ công hôm sớm cấy cày cho chăng?…

Và Hoài Thanh khẳng định: “Có nhẽ do tác động của những câu ca dao đấy nhưng mà bài thơ Lý Thân đã trở thành tiếng kêu của người nông dân xứ ta ngày trước[10]”. Tương tự là nhờ giọng điệu thơ thay đổi nên nó ko chỉ thay hình đổi dạng nhưng mà đã thực sự thay da đổi thịt, thay hồn đổi vía. Trong bài ca dao này, vậy là đã trú ngụ một mảnh hồn Việt. Trường hợp này, mảnh hồn Việt được phổ vào đó chủ yếu qua giọng thơ, điệu thơ, cụ thể là điệu than. Ta có thể thấy nó đặc thù phổ quát trong tiếng hát than thân của người phụ nữ:

Thân em như miếng cau khô

Người thanh tham mỏng, người thô tham dày,

Thân em như dải lụa đào

Phơ phất giữa chợ biết vào tay người nào,

Thân em như hạt mưa rào

Hạt rơi xuống giếng hạt vào vườn hoa

Thân em như hạt mưa sa

Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày…

Một tiếng thơ Việt đặm đà cái phong vị gọi bằng “hồn quê”, hay “hồn xưa quốc gia” cũng thường được cất lên bằng điệu thơ đấy.

*

Điệu thơ về một mặt nào đó cũng là giọng điệu thơ. Khái niệm này hiện đang được nói tới khá nhiều, nhưng cách hiểu về nó chưa phải đã thống nhất. Đặc thù, việc tìm kiếm ở nhiều người, thấy đi vào những yếu tố hoặc chung chung mờ nhoè, hoặc riêng lẻ vụn vặt. Tôi cho rằng giọng điệu là sự hoà hợp giữa nội dung xúc cảm và hệ thống chất liệu, nhưng mà trước hết là hệ thống sắc thái ngữ điệu. Nói tương tự để khẳng định: cái gọi là giọng điệu phải nằm ở sự hoà hợp thành một thể, một điệu thức nhuần nhuỵ, chứ ko phải là phép cộng giản đơn của từng yếu tố một.

Thơ Nguyễn Bính chủ yếu được viết bằng điệu than và điệu ghẹo, nhất là điệu than. Hãy đi vào những nét chính cấu thành từng giọng đấy. Đối với điệu than, nội dung xúc cảm cơ bản của nó phải là xót thương và hờn oán. Thương người và thương mình, hờn giận bản thân và oán trách số kiếp. Bởi vậy nguyên uỷ của nó cơ bản là nỗi xấu số trong đời. Đơn giản là: có Khổ thì có Than. Chúng ta đều biết, nỗi xấu số bởi lao động nhọc nhằn và bởi bất công xã hội chưa phải là mối quan tâm hàng đầu của các thi sĩ Lãng mạn – thiên hướng Hiện thực quan tâm tới nó nhiều hơn. Nỗi xấu số ám ảnh ngòi bút chàng thi sĩ lãng mạn Nguyễn Bính nhiều nhất là nỗi lỡ làng của con người. Cụ thể là lỡ làng trong tơ duyên và dở dang trong sự nghiệp. Đây ko chỉ là nỗi xấu số của chính cái tôi Nguyễn Bính, nhưng mà còn là nỗi xấu số dằng dặc giáng xuống bao kiếp phụ nữ đàn ông cơ khổ lầm lụi sau những luỹ tre nghìn đời nay. Họ đã từng trút những lời thở than sầu tủi vào những câu ca buồn, đã úp mặt vào hai bàn tay của ca dao dân ca nhưng mà vùi sâu những tiếng nấc nghẹn. Cho nên hướng tới mối xấu số này cũng là sự tiếp nối một nguồn lệ từ nghìn xưa, là mang vào thơ mình những nông nỗi bao đời của người Việt trên đồng quốc gia này.

Nội dung xúc cảm kia tự nó chưa thể trở thành điệu than, nếu như chưa tìm tới một hình thức biểu cảm thích hợp. Muốn thành điệu than, ít nhất nó phải chuyển tải bằng hai sắc thái ngữ điệu là kể lể và than vãn. Một nông nỗi là hậu quả của một hoàn cảnh, muốn than vãn, trước tiên phải kể lể, thổ lộ cái hoàn cảnh đấy, cái nông nỗi đấy để người nghe có thể thấu được khúc nôi. Vì điều này nhưng mà thơ Nguyễn Bính bao giờ cũng có yếu tố tự sự: cụ thể là có sự và có một giọng kể và lời kể. Nhà văn Tô Hoài đã hợp lí lúc tưởng tượng Nguyễn Bính giống như một người có tài kể chuyện: “ở mỗi xóm mỗi làng, thường thấy những bác thợ cày, thợ cối, thợ rèn, thợ ngoã, bà hàng nước vối, hầu như vùng nào cũng có những người giỏi đặt vè, nói tiếu lâm, pha trò, kể chuyện khéo tới nỗi “con kiến trong lỗ cũng phải bò ra”, người nào cũng thích nghe, ví như cuốn truyện hay, đọc chẳng bao giờ muốn thấy trang cuối. Nguyễn Bính là một người tương tự”, “Nguyễn Bính chẳng khác một người tài kể chuyện, cứ nhẩn nha nói về mọi thứ thân thuộc quanh mình nhưng mà khiến ta phải chú ý[11]”. Đọc Nguyễn Bính có thể thấy hạt nhân của mỗi thi phẩm thường là một cái sự nào đó. Tất nhiên, vẫn là sự lỡ làng, sự dang dở từ một mảnh đời lỡ làng nào đó, nhưng mà thường lúc là của chính cái tôi lỡ làng Nguyễn Bính. Này là sự lỗi hứa ở mưa xuân, này là sự lỗi thề của người khách tình xuân, sự lỗi ước với tình quân của cô lái đò, này là sự bỏ qua cơ duyên với người láng giềng, này là sự dở dang, lỡ làng mãi mãi của chị Trúc một lần Nhỡ bước sang ngang:

Đoái thương thân chị lỡ làng

Đoái thương phận chị dở dang những ngày…

Mạch thơ được triển khai do vận động của những cái sự như thế. Nên mạch liên kết của các thi phẩm Nguyễn Bính chủ yếu dựa vào một cái cốt (truyện) nào đó. Và mạch được dẫn dắt bởi những lời kể, nhưng mà đặc trưng của nó là tường thuật, tái tạo lại sự kiện như những tình huống diễn ra trong ko gian thời kì:

Nhà nàng ở cạnh nhà tôi

Cách nhau cái giậu mùng tơi xanh rờn…

Em là con gái trong khung cửi

Dệt lụa quanh năm với mẹ già

Lòng trẻ còn như cây lụa trắng

Mẹ già chưa bán chợ làng xa…

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông

Một người chín nhớ mười mong một người

Xuân đã đem mong nhớ trở về

Lòng cô lái ở bến sông kia

Cô hồi ức lại ba xuân trước

Trên bến cùng người nào đã nặng thề…

Nhưng em ơi, một đêm hè

Hoa xoan nở, xác con ve hoàn hồn
Ngừng chân trên bến sông buồn

Nhà nghệ sĩ tưởng đò còn chuyến sang…

Có nhẽ vì ham kể lể nhưng mà thơ Nguyễn Bính thường bộc lộ một cái tật: dông dài, và ko hiếm bài tới mức giàn giụa tựa như giời mưa ở Huế đúng như cảm nhận của chính thi sĩ vậy.

Song song và đan xen với kể lễ, phải là than vãn. Tức là luôn thốt lên những lời cảm thương cho nỗi khổ cực, xấu số để mong có được sự đồng cảm xót thương. Đương nhiên, lối biểu cảm trực tiếp bằng thán từ, lối nặng nề hoá, trầm trọng hoá bằng cách phóng đại sẽ được sử dụng như là thủ pháp chủ đạo:

Lá ơi! và gió ơi! tôi biết

Tình chửa song đôi đã lỡ làng

Hai tay ôm lá vào lòng

Thương ôi! chiếc lá cuối cùng là đây

Bao nhiêu ân ái thế là thôi

Là bấy nhiêu oan trái hỡi trời

Nhưng mộng nhưng mà thôi mộng mất thôi

Hoa thừa rượu ế đấy tình tôi,…

Lối đay đả, chì chiết, chua chát được sử dụng như để làm cho giọng than vãn trở thành lâm li hơn thống thiết hơn:

Mình cô làm bận mấy mươi người

Mẹ phải xa con khổ mấy mươi

Một đi bảy nổi ba chìm

Trăm cay nghìn đắng con tim héo dần

Khốn nạn tưởng yêu thì khó chứ

Ko yêu thì thực dễ như ko

Nàng đi Hà nội buồn như chết

Hà Nội buồn như một lỡ làng

Nàng có ngờ đâu tới nỗi này?

Lỡ làng chôn hết cả thơ ngây

Ngày qua ngày lại qua ngày

Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng

Chờ mãi anh sang anh chả sang

Thế nhưng mà hôm nọ hát bên làng

Năm tao bảy tuyết anh hò hứa

Để cả mùa xuân cũng lỡ làng

Chị nay sống cũng bằng ko?

Coi như chị đã ngang sông đắm đò…

Thơ Nguyễn Bính cứ như lời than thân trách phận, lời tủi phận tủi duyên cho mình và cho người. Và thơ Nguyễn Bính, do vậy, có cái điệu bao trùm là kể lể sự tình. Điệu thơ này quả là một ma lực đối việc đoạt được trái tim đại chúng, nhất là thôn dân. Nó dễ đồng điệu với điệu tâm hồn của người tiểu nông xứ ta. Tuy nhiên, than vãn tự nó cũng đã bao hàm một mặt trái. đấy là lúc lạm dụng thở than, thì thơ lênh láng những nước mắt. Y như thơ của một người quá mau nước mắt vậy. Có nhẽ Nguyễn Bính thiếu nhất sự tiết chế của một thi sĩ. Ông cũng ý thức khá rõ về điệu than vãn của hồn mình:

Tôi rót hồn tôi xuống mắt nàng
Hồn tôi là cả một lời van.

Nhiều lúc muốn kết thúc, cho hồn mình đỡ u ám, lòng mình đỡ nặng nề vì chính nước mắt than van của mình:

Em ko khóc nữa ko than nữa

Đây một bài thơ hận cuối cùng

Ko than chắc hẳn hồn tươi lại

Ko khóc thả phanh đôi mắt trong.

Nhưng khốn nỗi, nếu ko than vãn, thì Nguyễn Bính cũng ko còn thực là Nguyễn Bính nữa. Bởi nó là điệu hồn của thi sĩ rồi.

Xem thêm bài viết hay:  Mâm cỗ ngày Tết 2022 – Ý nghĩa mâm cỗ Tết của các miền

*

Đọc Nguyễn Bính còn thấy một sắc điệu khác cũng rất đậm chất dân gian: ghẹo. Về thực chất đó là lối chòng ghẹo trong đời sống giao tiếp được đưa vào thơ ca. Nội dung xúc cảm thường là niềm khát khao kết đôi, kết duyên. Sát sạt hơn là khát khao “xé rào” ngăn cản, xoá bỏ khoảng cách, “mở lối” tới nhân vật, khai thông mối luyến ái. Ghẹo thực sự trở thành nhịp cầu lứa đôi bao đời. Chẳng thế nhưng mà trong dân ca có cả một loại hình là “hát ghẹo”. Nếu than nghiêng về âm tính – buồn, thì ghẹo lại nghiêng về dương tính – vui. Đằng là điệu xúc cảm của cái tôi lúc đã lỡ làng, đằng lại là điệu tâm hồn lúc cái tôi đang “lăm le xâm lược”. Đằng thì thán, đằng thì tán. Phương tiện của nó là lối nói đùa vui, trêu chọc, đôi lúc cả cợt nhả, bông phèng, miễn sao có thể lấn tới. Những cách nói lấp lửng, vòng vo, xa xôi, thậm chí cả nói “quàng xiên” nữa luôn được sử dụng như là “vũ khí” của giọng đùa ghẹo:

Đôi ta cùng ở một làng

Cùng đi một ngõ vội vã chi anh

Em nghe họ nói mỏng manh

Hình như họ biết chúng mình… với nhau

Bao giờ bến mới gặp đò

Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau

Cái ngày cô chửa lấy chồng

Đường dài tôi cứ đi vòng cho xa

Lối này lắm bưởi nhiều hoa

Đi vòng để được qua nhà đấy thôi

Một hôm thấy cô cười cười

Tôi yêu yêu quá nhưng hơi phật lòng

Biết đâu rồi chả nói chòng

Làng này khối đứa phải lòng mình đây

Hồn anh là hoa cỏ may

Một chiều cả gió bám đầy áo em

Mọi người hớn hở ra xem

Chỉ duy có một cô em chạnh buồn

Đêm qua mới thực là đêm
Người nào đem giăng sáng giãi lên vườn chè

Đàn tôi đứt hết dây rồi

Ko người nối lại, ko người thay cho…

Có cô lối xóm hàng năm

Trông dâu tốt lá chăn tằm hơn tơ

Năm nay đợi tới bao giờ

Dâu cô tới lứa tằm cô chín vàng

Tơ cô óng chuốt mịn màng

Sang xin một ít cho đàn có dây

Nàng về làm dâu nhà tôi

Vườn dâu nó thẹn với đôi tay ngà…

Người đọc thấy trong đó bóng vía những lối nói ghẹo của những anh trai quê lém lỉnh, “tán như xiếc” trong ca dao xưa:

Đêm qua tát nước đầy đình

Quên mất chiếc áo trên cành hoa sen

Em được thì cho anh xin

Hay là em để làm tin trong nhà…

Mai mượn cô đấy về khâu cho giùm

Khâu rồi anh sẽ trả công

Tới lúc lấy chồng anh sẽ tạo điều kiện cho

Trên trời có đám mây xanh

Ở giữa mây trắng xung quanh mây vàng

Ước gì anh lấy được nàng

Để anh sắm gạch Bát Tràng về xây?

Xây dọc rồi lại xây ngang

Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân

Có rửa thì rửa tay chân

Chớ rửa lông mày chết cá ao anh…

Giọng điệu bao giờ cũng là sự biểu thị của thái độ xúc cảm. Nó là xúc cảm đã được hình thức hoá, điệu thức hoá. Nhưng mà xúc cảm chính là yếu tố quyết định tới cái hồn của một thi phẩm, cũng như của mọi thi phẩm. Vì thế tìm kiếm hồn quê trong thơ Nguyễn Bính ko thể ko quan tâm tới giọng điệu. Nếu điệu than – và cả điệu ghẹo nữa – được xem là những điệu thơ phổ quát trong dân gian, mang đậm mảnh hồn Việt, thì chính nó cũng là điệu thơ chủ đạo của Nguyễn Bính, là điệu hồn Nguyễn Bính. Toàn cầu thơ Nguyễn Bính thấm đượm điệu hồn đấy, chính là bởi Nguyễn Bính đã phổ điệu hồn mình vào trong từng sự vật quê kiểng, vào từng mảnh đời quê. Cho nên nó cứ man mác, bàng bạc đây đó, tưởng như nó hoàn toàn bên ngoài ta nhưng mà hình như lại có sẵn đâu đó trong mỗi chúng ta.

6. Con đẻ của câu lục bát nổi chìm nơi đồng quê

Về hình thức thuần tuý, Nguyễn Bính là đứa con được sinh ra lúc ca dao ngầm giao duyên cùng Thơ Mới. Nhưng trong đứa con đấy, gien trội vẫn thuộc về ca dao. Nên Nguyễn Bính là tiếng độc huyền vẫn lặng lẽ ngân rung trong lúc giàn giao hưởng tân nhạc của thơ đương thời đang diễn tấu mê mải dưới chiếc đũa chỉ huy của người nhạc trưởng toàn năng là cái Tôi cá thể. Song, nó ko có cái tự ti lạc lõng, lạc thời. Trái lại, nó vẫn diễn tấu theo lối của mình, bằng dây tơ riêng của mình, kiên trì, tự tín. Vẫn cất lên điệu riêng của mình nhưng mà khiến người nghe phải chú ý, phải say mê. Tôi muốn nói, trong lúc phần đông đương cuốn theo sức hút khó cưỡng lại được của thơ tự do, thơ hiện đại, cải cách thơ mình theo lối mới, thì Nguyễn Bính về lại với câu lục bát dân gian vẫn chìm nổi bao đời nay nơi đồng quê. Về với nó, đối với Nguyễn Bính là về với hương đồng gió nội, về với chân quê.

Khách quan nhưng mà nói, những bài thơ hay của Nguyễn Bính thuộc về cả thất ngôn lẫn lục bát. Những câu vào loại hay nhất của Nguyễn Bính cũng có cả lục bát lẫn thất ngôn. Trong đó có những cặp thất ngôn nhưng mà người ta khó có thể quên được, ví như:

Bữa đấy mưa xuân phơi phới bay

Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy

Sớm Đào, trưa Lý, đêm Hồng phấn

Tuyết Hạnh, sương Quỳnh, máu Đỗ Quyên

Sầu nghiêng mái quán mưa tong tả

Chén ứa men lành lạnh ngón tay

Chín hứa đã sai mười: bạn quí

Nghìn voi ko được một: người yêu

Bá Nha thuở trước còn Chung Tử

Kim Trọng ngày nay hết Thuý Kiều…

Tuy nhiên, ở thất ngôn, cái thần sắc Nguyễn Bính ko đậm đặc, ko nổi trội bằng ở lục bát. Có nhẽ lục bát vốn ăn sâu vào lòng quê, cho nên bản thân nó đã chứa đựng ít nhiều duyên quê, hồn quê rồi. Cho nên chỉ ở lục bát, hồn vía Nguyễn Bính mới nhập với hồn quê tới vậy, cả hai mới đồng thể, cất lên cùng một tiếng nói nhuần nhuỵ nhất. Tới nỗi Nguyễn Bính đang nói những lời quê, hay hồn quê đang cất lời qua Nguyễn Bính thật khó nhưng mà phân biệt. Hồn vía Nguyễn Bính đã kí thác nhiều nhất vào lục bát. Nói đơn giản, ở lục bát Nguyễn Bính được là mình hơn cả. Nhiều người bạn Nguyễn Bính đã xác nhận rằng Nguyễn Bính làm lục bát dễ như người ta viết văn xuôi thường vậy.

*

Điểm mặt những cây bút lục bát nổi nhất của phong trào Thơ Mới, người ta vẫn nhắc nhiều tới hai gương mặt với hai phong cách không giống nhau là Huy Cận và Nguyễn Bính. Nếu tác giả Lửa thiêng nghiêng về lục bát cổ điển, thì tác giả Nhỡ bước sang ngang lại nghiêng về lục bát dân gian. Cả các nhà nghiên cứu và chính Huy Cận cũng tự thấy như thế. Nếu có sự phân biệt câu thơ thành “điệu nói” và “điệu ngâm”, thì có thể thấy: Huy Cận là lục bát điệu ngâm[12], còn Nguyễn Bính là lục bát điệu nói. Điều này cho thấy Thơ Mới trong lúc cơ bản đổi sang điệu nói, vẫn ko quên mang theo hành trang của nó cả điệu ngâm để làm giàu cho mình. Và, ko phải tới Thơ Mới, thi ca mới biết tới điệu nói. Điệu nói từ lâu đã là hình thức sẵn có của câu thơ dân gian. Nếu xem điệu nói là tín hiệu hiện đại, thì câu thơ dân gian, tự nó đã chứa đựng tính hiện đại. Phải chăng vì mang sẵn trong mình yếu tố hiện đại đấy nhưng mà ca dao dân gian cứ trẻ mãi, cứ bất chấp các thời đại, bất chấp các cuộc biến thiên cả trong lịch sử lẫn thơ ca? Và qua trường hợp Nguyễn Bính, ta thấy: cứ đi sâu mãi vào truyền thống cũng là một hướng đổi mới? Thì trở lại những tinh hoa trong ngọn nguồn với một nhỡn quan mới cũng chính là một cách đổi mới chứ sao!

Nói kĩ hơn, câu thơ dân gian chưa gắn với chủ thể là cái tôi tư nhân cá thể, “điệu nói” của nó mới chỉ có được yếu tố là “cấu trúc lời nói” trong giao tiếp đời sống, gần với khẩu ngữ. Nhưng đó là yếu tố khá cơ bản của hình thức câu thơ. Nguyễn Bính đã đưa vào câu lục bát dân gian hơi thở của thời đại Thơ Mới. Đó là, mang vào nó “yếu tố tư nhân”. Cụ thể, cùng với những khía cạnh như xúc cảm trở thành nhân vật mô tả, câu lục bát Nguyễn Bính đã được tăng thêm những yếu tố lời nói, ngữ điệu, giọng điệu tư nhân. Có thể thấy Nguyễn Bính đã đưa giọng điệu thở than từ thảm kịch lỡ làng của hồn mình vào lục bát, đưa cả điệu đùa ghẹo đa đoan vào lục bát. Cho nên, dưới ngòi bút của thi sĩ, lục bát đã mang cái hồn của Nguyễn Bính. Cơ sở nào trong lục bát có thể làm nội ứng cho điệu than Nguyễn Bính có thể nhập vào thể loại đấy thuần thục tới vậy? Cặp lục bát, xét thuần tuý về nhạc tính, tự nó đã là một khúc thức chặt chẽ. Cụ thể là một tổ hợp nghiêng hẳn về thanh bằng[13], nó thuận hơn đối với việc diễn tả những trạng thái tâm tình ít gai góc, ít đột biến, thất thường. Và hết sức sở trường đối với những khúc ngâm, khúc tự tình, những lời than vãn lâm li và những lời giao duyên ong bướm tình tứ. Một thi sĩ như Nguyễn Bính dường như có khả năng tư duy bằng lục bát. Lục bát tương hợp với những bước tư duy của một người thích trầm mình vào những tự ti tủi sầu, tương hợp với điệu hồn ưa than vãn (Hồn tôi là cả một lời van). Nói một cách khác, điệu than đã tìm thấy trong thể loại lục bát cái tiết điệu vàng, dường như sinh ra để dành cho nó. Nên, tưởng tượng theo cách của Hồ Xuân Hương, thì điệu than và lục bát đã phải duyên phải kiếp với nhau nên thắm lại liền:

Hai tay ôm lá vào lòng

Thương ôi! chiếc lá cuối cùng là đây

Ngày qua ngày lại qua ngày

Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng

Cách mấy mươi con sông sâu

Và trăm nghìn vạn nhịp cầu chông chênh

Cũng là thôi cũng là đành

Sang ngang nhỡ bước riêng mình chị sao…

Tất cả thuần thục tới mức, Nguyễn Bính làm thơ như nói. Xuất khẩu thành thơ. Hễ cất lời là mây trôi nước chảy. Tự nhiên như nói thường, nói bông lơn, thậm chí nói trạng. Đó thế nhưng mà thành lục bát hay:

Ngừng chân qua cửa nhà nàng

Thấy hoa vàng với bướm vàng hôn nhau

Cành dâu cao, lá dâu cao
Lênh đênh bóng bướm trôi vào mắt em

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông

Một người chín nhớ mười mong một người

Người nào làm cả gió đắt cau

Mấy hôm sương muối cho giầu đổ non

Hội làng mở giữa mùa thu

Giời cao gió cả giăng như ban ngày

Đêm qua mới thật là đêm

Người nào đem giăng sáng giãi lên vườn chè

Thấy tơ duyên của đôi ta

Tới đây là… tới đây là… là thôi…

*

Những người nào am tường lục bát đều thấy lục bát dễ làm nhưng mà khó hay. Lúc nào nó cũng chênh chao trên một sợi chỉ mỏng manh giữa một bên là thơ bên kia là vè. Lục bát điệu ngâm cũng thế, nhưng mà lục bát điệu nói càng thế. Thực nhưng mà nói, do đúc chữ, nén chữ, coi trọng ý, tứ, lấy uyên súc làm đầu nên lục bát điệu ngâm có thể có nguy cơ chật chội, nặng nề, thiếu tự nhiên, nhưng ít có nguy cơ thành vè. Trong lúc đó, lục bát điệu nói lại coi trọng giọng nói, lời nói, hơi thở xúc cảm, lấy tính tự nhiên làm trọng, nên thường giãn chữ, nới chữ. Do vậy, trở thành vè là một nguy cơ rất cao. Khả năng của người viết lục bát chính là sự vững vàng ngay trong từng cái nhón chân trên sợi dây mỏng manh đó. Đọc Nguyễn Bính, người sành lục bát nào cũng phải ngả mũ thán phục trước những thành công tuyệt diệu của thi sĩ. Có lúc, tôi đã nghĩ, Nguyễn Bính giống như một nghệ sĩ xiếc tinh xảo của bộ môn đi trên dây, lúc tạo ra những câu lục bát dễ như ko nhưng mà thực khó vô ngần:

Cái gì như thể nhớ mong

Nhớ nàng, ko, quyết là ko nhớ nàng

Một nghìn năm, một vạn năm

Con tằm vẫn kiếp con tằm vương tơ

Hồn anh là hoa cỏ may

Một chiều cả gió bám đầy áo em

Láng giềng đã đỏ đèn đâu

Chờ em chừng giập miếng giầu em sang…

Nhưng có nhẽ ko hẳn. Sâu xa hơn chuyện nghề nghiệp, siêu hình hơn chuyện khả năng, là bản năng. Nguyễn Bính có một bản năng lục bát. Thơ lục bát Nguyễn Bính là sự cất lời của một bản năng lục bát vô tận. Ko thế, làm sao có thể có được những câu lục bát cứ như ko nhưng mà lại ma quái tới vậy:

Anh đi đó, anh về đâu

Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm

Chừ đây bên nớ bên tê

Sương thu xuống gió thu về bồng bênh…

Nguyễn Huy Thiệp, lúc đọc lục bát đã có một sự phân chia là lạ: lục bát “trí năng” và lục bát “ngộ năng”[14]. Loại thứ nhất có thể hiểu nôm na là loại “có thể” – người chịu thương chịu khó trau dồi nghiệp lục bát vẫn có cơ một ngày nào sẽ đạt tới. Loại thứ hai là “ko thể” – ko thể bằng tinh thông nghề nghiệp nhưng mà đạt tới được, nó là tặng vật của trời ban cho một số ít nào đó, và cũng vào những khoảnh khắc xuất thần hiếm hoi nào thôi. Loại thứ nhất của người, loại thứ hai của trời. Và nhà văn này đã xếp Nguyễn Bính vào loại thứ hai. Tôi nghĩ là xác đáng.

Tuy nhiên, nói một thi sĩ có bản năng thi ca mạnh mẽ là đề cao, nhưng chỉ “ăn nhờ” vào bản năng ko thôi thì lại là hạn chế. Tôi ngờ rằng Nguyễn Bính đã có những kiểu cách riêng để hoàn thiện câu lục bát đậm phong cách của mình. Nhìn sâu vào sở trường của từng điệu, có thể thấy lục bát điệu ngâm vẫn nệ ý hơn, vì thế, ý thường lau chau với nhạc trong việc dẫn dắt hơi thơ, triển khai câu thơ. Còn lục bát điệu nói lại chuyên chú ở hơi thơ, nên ý luôn nhường quyền dẫn dắt cho nhạc, tiết điệu lục bát thường thanh thoát tự nhiên, gần với tiết điệu sinh động trong dòng ngữ lưu của khẩu ngữ giao tiếp. Nắm được “tính nết” này thì làm chủ được lục bát điệu nói. Nguyễn Bính đã đánh thức dậy những tiềm năng vô song của điệu nói đấy. Lối ngắt nhịp cho thật gần với tiết điệu của lời nói thường:

Cái gì như thể nhớ mong

Nhớ nàng / ko / quyết là ko/ nhớ nàng

Cái nhịp 2/1/3/2 ở câu bát này là tiết nhịp của khẩu ngữ, trình bày tâm lí đầy tranh chấp của chủ thể. Nó bật lên sao lại ăn khớp tới vậy giữa tiết nhịp của chuỗi lời nói và tiết điệu của chuỗi lời thơ. Lối ngắt nhịp quyện chặt với lối trùng điệp hết sức táo tợn, tới ngỡ như đùa bỡn với tiếng nói, thế nhưng mà lại tự nhiên tới mức “quá quắt”, làm cho câu lục bát có cái hay tới là nghịch lí: quen tới mức lạ lùng, giản đơn tới mức… cầu kì:

Anh đi đó, anh về đâu?

Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm…[15]

Lối chơi chữ tưởng rối rắm điệu đàng nhưng mà thực ra lại tự nhiên; nhịp thơ đầy lấp lửng, lúng liếng, đung đưa đã góp phần tạo ra hình tượng một khuê phụ lòng đầy xáo động, xao xuyến:

Buồng hương bóng bóng mình mình

Gió hiu hiu hắt qua mành mành hoa.

Lối dùng tiểu đối pha trộn với chơi chữ, lối dùng nhấp nháy, lối ngắt những nhịp tràn lướt làm cho điệu lục bát tạo ra những hình động ngỡ cầu kì nhưng mà vẫn thanh nhã, trôi thoát rất ngon lành:

Đèo cao cho suối ngập ngừng

Nắng xoai xoải nắng chiều lưng lửng chiều…

Ở thế hệ sau, người đi tiếp nẻo đường lục bát này với nhiều thành tích là Bùi Giáng, Nguyễn Duy, rồi Đồng Đức Bốn…, họ lại mang hơi thở của thời đại mình, thế hệ mình vào lục bát. Làm cho lục bát điệu nói vẫn luôn là một cuộc chạy tiếp sức của các thế hệ thơ Việt Nam nhằm giữ gìn và làm mới một lối thơ đã trở thành hương hoả của nòi, để lục bát vẫn mãi là một thể loại thơ giàu sinh lực[16].

7. Lời quê, lời Việt

Lời thơ Nguyễn Bính là lời Việt trong vẻ đẹp chân quê.

Khép lại tuyệt bút Truyện Kiều, Nguyễn Du viết một câu nhưng mà nó đã được truyền tụng bởi nhiều khía cạnh không giống nhau:“Lời quê chắp nhặt dông dài / Sắm vui cũng được một vài trống canh”. Nhưng có nhẽ đó chỉ là sự khiêm nhượng của thiên tài thuộc văn học bác học. Trong Truyện Kiều, vẻ đẹp của tiếng Việt ko phải là lời quê. Có chăng, là lời quê đã được tinh luyện theo một thứ công nghệ bác học nào đó. Có nhẽ chỉ ở Nguyễn Bính, mới có thứ lời quê còn nguyên hương đồng gió nội của nó.

Tạo ra cái tiếng nói được gọi là lời quê, ko chỉ có vai trò của lời, với tức là từ vựng. Lời quê còn phải được dùng theo lề lối quê nữa thì nó mới thực là chân quê, mới dậy lên cái hồn quê. Một phương diện lớn tạo nên cái lề lối đấy hẳn phải là điệu nói. Hãy lấy một so sánh. Cũng một hình ảnh vầng trăng xẻ đôi biểu thị cho sự chia li, gắn với điệu ngâm, đầy những trau chuốt, đúc chữ nén ý, lẫn vào văn cảnh bàng bạc từ Hán Việt, nó đã hoàn toàn mất đi hương vị quê mùa:

Vầng trăng người nào xẻ làm đôi

Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường.

Nhưng cũng vầng trăng đấy, nằm trong cấu trúc của lời nói gần với khẩu ngữ – một nét khá chủ đạo của điệu nói, và với lối ví von sánh duyên sánh cặp thuộc lề lối quê, nhưng mà ở câu ca này hương đồng gió nội vẫn vẹn nguyên:

Vầng trăng người nào xẻ làm đôi

Đường trần người nào rẽ xuôi ngược hỡi chàng?

Tôi cho rằng, nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt nhưng mà bỏ qua lề lối quê của việc dùng tiếng nói, tựa như một thứ “ngữ pháp quê”, thì vững chắc đã bỏ sót một vẻ đẹp thuộc về bản sắc của tiếng Việt. Tiếc rằng, chưa có một công trình tiếng nói học nào quan tâm thực sự tới vấn đề này.

*

Cắm rễ rất sâu vào ca dao, Nguyễn Bính ko chỉ giàu lời quê, nhưng mà còn rất nhuyễn lề lối quê nữa. Người ta đã khảo tiếng nói Nguyễn Bính và thấy ra chất quê ở nhiều mặt. Lối đo đếm ko gian bằng thước đo cụ tượng tới… siêu hình: Thôn Đoài cách có một thôi đê. Trong thước đo đặc thù đấy, ta thấy cái tĩnh và cái động quyện vào nhau. “Một thôi đê” bao gồm cả “một quãng đê” (tĩnh) nối thôn Đoài với thôn Đông, lại gồm cả “một quãng đi”, tức là nhịp vận chuyển gắn với vận tốc bước của con người (động) dọc theo lối đê nữa. Vậy là, do sự hoà quyện đấy nhưng mà, trong cách đo kia vừa có dùng ko gian để ướm vào khoảng cách ko gian, vừa dùng cả thời kì để ước chừng ko gian nữa. Chỉ có Nguyễn Bính dùng loại thước đo này. Đo đếm thời kì cũng theo lề lối quê:

Xóm giềng đã đỏ đèn đâu

Chờ em chừng giập miếng giầu em sang.

Đơn vị tính là quãng thời kì đủ để ăn (hoặc giã) giập một miếng giầu. Tức là, thời kì được tính bằng loại công việc thân thuộc với tất cả những người quê. Vậy là trong mỗi người quê đều có chung một thứ đồng hồ qui ước. Hoặc phép tính thời kì bằng thứ “đồng hồ cây cối”:

Ngày qua ngày lại qua ngày

Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.

Lối đong đếm những cái hoàn toàn ảo như lòng sầu nhớ bằng những đơn vị độ dài, đơn vị dung tích hoàn toàn thực đầy tính cụ tượng và thân thuộc của người quê:

Ví chăng nhớ có như tơ nhỉ

Em thử quay xem được mấy vòng

Ví chăng nhớ có như vừng nhỉ

Em thử lào xem được mấy thưng

Mẹ bảo mùa xuân đã cạn ngày…

Lối vòng vèo lấp lửng:

Em nghe họ nói mỏng manh

Hình như họ biết chúng mình… với nhau.

Lối ví von cụ tượng đầy xa xôi nhưng mà thâm thuý vô chừng:

Người nào làm cả gió đắt cau

Mấy hôm sương muối cho giầu đổ non

Tơ cô óng chuốt mịn màng

Sang xin một ít cho đàn có dây

Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông

Cau thôn Đoài nhớ giầu ko thôn nào?…

Vẻ đẹp của tiếng Việt trong lời quê là thế, nó bình dị tới nôm na, nhưng nó cũng trong sáng, sâu xa tới ngạc nhiên. Nó chân mộc ngỡ thô sơ nhưng mà lại lung linh giàu thi vị. Nắm được cái nghịch lí đó, mới có thể nắm được cái hồn của lời quê. Hãy đọc một đoạn thơ này xem, tiếng Việt trong lời quê của Nguyễn Bính thực đã tới độ trong veo:

Từ ngày cô đi lấy chồng

Gớm sao có một quãng đồng nhưng mà xa

Bờ rào cây bưởi ko hoa

Qua bên nhà thấy bên nhà vắng teo

Lợn ko nuôi, đặc ao bèo

Giầu ko dây chẳng buồn leo vào giàn

Giếng thơi mưa ngập nước tràn

Ba gian đầy cả ba gian nắng chiều.

Mọi chữ ở đây đều là lời quê, đều là những tiếng thuần nôm, thuần quê. Lối dùng cũng là lề lối chân quê, tất tật đều là hương đồng gió nội. Từ cái cách biểu cảm (Gớm sao…), tới lối dùng các hệ thống ngôn từ đối lập để cùng tạo ra một ko khí cho quang cảnh, nhất nhất đều rất thân thuộc, rất quê, tức là rất giản đơn, mộc mạc, nhưng nhưng mà chữ nào cũng có vong linh, tất cả lại chứa được cái vong linh của cảnh. Để gợi ra sự trống vắng của cảnh, nỗi trống ko của lòng, Nguyễn Bính thường hay dùng cái có gợi cái ko, cái thừa gợi cái thiếu, cái đầy gợi cái rỗng, cái còn gợi cái mất. Ví như:

Em ở mình đây nhà trống vắng

Giăng vàng đầy ngõ gió mênh mông,

hay

Giăng đầy ngõ gió đầy thôn

Anh về quê cũ có buồn ko anh?…

Nhưng ở đoạn thơ trên, tất cả dường như tụ cả vào, đậm đặc, ấn tượng tới kì lạ. Người xưa nói: vắng con người thì có hoá công. Ko biết Nguyễn Bính có hấp thụ điều đấy ko lúc viết đoạn thơ đấy, nhưng mà thi sĩ đã gợi cái vắng mặt của con người, bằng những gì có mặt của hoá công. Người đi rồi làm trống hoang cả cảnh, cảnh hoang hoá đã làm hoang liêu cô quạnh cả chốn này. Đường thì xa, nhà thì vắng, quạnh nhất là vắng teo. Những từ mang sắc thái phủ định chỉ cái vắng, cái ko: ko hoa, ko nuôi, chẳng buồn leo… sóng đôi với hệ thống những từ chỉ cái có, cái đầy: đặc ao bèo, mưa ngập, nước tràn… nhất là câu “Ba gian đầy cả ba gian nắng chiều” đã làm cho ko gian này đầy cả một nỗi trống ko. Cái này càng đầy, cái kia càng trống. Một người ra đi đã làm cui cút cả cảnh vật, cô quạnh khắp cả ko gian lẫn thời kì. Những lời nôm na nhưng mà đầy ắp xúc cảm của chủ thể. Tới nỗi sau bao nhiêu năm người đọc vẫn chưa hết tê tái trước nỗi trống ko dâng lên từ những lời quê mộc mạc đó.

Nhưng nói tới lời quê của Nguyễn Bính phải nói tới tài dùng thành ngữ và tạo từ theo lối thành ngữ. Trong một vài tài liệu nghiên cứu văn học dân gian, thành ngữ đã từng được xếp vào ô: “lời ăn tiếng nói của dân gian”. Tôi ko bàn ở đây tên gọi của khái niệm cũng như tính lôgic của nó trong hệ thống khái niệm kia, nhưng mà chỉ muốn khẳng định rằng: thành ngữ thuộc về cái kho lời quê. Dùng thành ngữ có thể khiến lời thơ nặng tính ước lệ dân gian, lời dễ bị mòn. Nhưng thành ngữ lúc được dùng thuần thục, bao giờ nó cũng làm cho lời thơ trở thành mềm mại, thuần thục, thuận chèo mát mái, người nghe rất dễ thông lúc tiếp thu. Bởi thành ngữ ko chỉ là một ngữ liệu tầm thường. Trái lại nó là ngữ liệu đặc thù. Trong đó kết tinh rất đậm nét mĩ cảm, mĩ học của người quê. Lúc được dùng, nó có sự cộng cảm, nhanh chóng truyền lan những tín hiệu thông tin và thẩm mĩ theo những kênh thân thuộc trong tiềm thức dân ta. Người đọc nắm bắt lời thơ trong thành ngữ bằng con người văn hoá truyền thống ăn sâu như một thứ gien văn hoá sẵn bao đời trong cõi sâu kín của hồn mình vậy. Chỉ nói riêng thành ngữ số từ, có thể thấy lời thơ Nguyễn Bính chân quê tới nhường nào. Bài Nhỡ bước sang ngang chẳng hạn, hẳn là nó đã ko đi sâu được vào lòng người quê, người Việt tới thế, nếu câu chuyện lâm li của người chị lỡ làng đấy ko cậy nhờ được vào vốn thành ngữ số từ thuần thục tới “dễ sợ” của thi sĩ:

Mẹ già một nắng hai sương

Chị đi một bước trăm đường xót xa…

Vui cùng chị một vài giây cuối cùng…

Một vai gánh vác nước nhà

Một vai nữa gánh muôn vàn thương nhớ…

Cách mấy mươi con sông sâu

Và trăm nghìn vạn nhịp cầu chông chênh…

Tuổi son nhạt phấn phai đào

Đầy thuyền hận có biết bao nhiêu người…

Một đi bảy nổi ba chìm

Trăm cay nghìn đắng con tim héo dần

Dù em thương chị mười phần

Cũng ko ngăn nổi một lần chị đi…

Ba gian trống, một mảnh vườn xơ xác…

Một lầm hai lỡ keo sơn…

Chị tôi khóc suốt một ngày một đêm…

Người nghệ sĩ ngôn từ chân chính nào cũng muốn làm giàu tiếng nói của mình bằng việc nắm cho được cái thần, cái hồn của tiếng mẹ đẻ, nắm cho được cái phép tinh luyện ngôn từ của ông cha. Nhưng điều này thật khó. Có người nỗ lực cả đời vẫn chưa có được bao nhiêu. Nhà văn Tô Hoài có lần than rằng, nhiều nhà văn ko chú trọng luyện chữ nên ko có chữ. Văn của họ có ý nhưng mà ko có chữ. Trong các nhà văn hiện đại có nhẽ chỉ Tô Hoài, Kim Lân, Nguyễn Thi, Nguyễn Duy, Trần Đăng Khoa… là có chú trọng luyện chữ theo lề lối quê một cách rõ rệt và có thành tựu nhất. Ở lối đi này, hẳn Nguyễn Bính luôn là một tấm gương lớn. Nhờ học được lời quê nhưng mà thơ Nguyễn Bính mới mang được cái hồn quê trong mỗi câu mỗi chữ, mới lưu được cái hồn quê trong vẻ đẹp của tiếng Việt chúng ta.

Bạn thấy bài viết Giỏi Văn – Bài văn: Nguyễn Bính và “kiếp con chim lìa đàn” có khắc phục đươc vấn đề bạn tìm hiểu ko?, nếu  ko hãy comment góp ý thêm về Giỏi Văn – Bài văn: Nguyễn Bính và “kiếp con chim lìa đàn” bên dưới để imperialhotelschool.edu.vn có thể thay đổi & cải thiện nội dung tốt hơn cho độc giả nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website Trường Cao đẳng Nghề Khách sạn Du lịch Quốc tế IMPERIAL

Phân mục: Ngữ Văn

Nguồn: imperialhotelschool.edu.vn

Bạn thấy bài viết Giỏi Văn – Bài văn: Nguyễn Bính và “kiếp con chim lìa đàn” có khắc phục đươc vấn đề bạn tìm hiểu ko?, nếu ko hãy comment góp ý thêm về Giỏi Văn – Bài văn: Nguyễn Bính và “kiếp con chim lìa đàn” bên dưới để Trường Cao đẳng Nghề Khách sạn Du lịch Quốc tế IMPERIAL có thể thay đổi & cải thiện nội dung tốt hơn cho các bạn nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website: imperialhotelschool.edu.vn của Trường Cao đẳng Nghề Khách sạn Du lịch Quốc tế IMPERIAL

Nhớ để nguồn: Giỏi Văn – Bài văn: Nguyễn Bính và “kiếp con chim lìa đàn” của website imperialhotelschool.edu.vn

Viết một bình luận